Lợi ích của việc đọc sách. Tại sao chúng ta nên đọc sách mỗi ngày

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát Bài ca Thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat.png Bang_tuan_hoan_cac_nguyen_to_hoa_hoc.png C2516777469765417.jpg Z5598716602347_053fc9e0be9a1e83163ba5cd1d9735e8.jpg Z5598716709850_9934871269da7f79c8094762431a4dc6.jpg Z5598716608761_7dfded384a6c4a0cdabc402d8ec5bcf7.jpg

    Sách điện tử Sách tham khảo

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÝ TỰ TRỌNG - THÀNH PHỐ NINH BÌNH💕💕

    Văn hóa đọc trong thời đại số

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh Hoài Chân

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Tươi
    Ngày gửi: 08h:39' 05-07-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HOÀI THANH - HOÀI CHÂN

    THI NHÂN
    VIỆT NAM
    1932-1941
    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
    Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net

    In theo bản in lần đầu
    NGUYỄN ĐỨC PHIÊN
    xuất bản năm 1942
    do nhà thơ Xuân Tâm cung cấp
    Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net

    Cuốn eBook này được thực hiện tại
    Box Dự án eBook cho Thư viện
    trang http://tve-4u.org
    Với sự tham gia của:
    bookworm, windcity, lemontree123, Song Ngư, lungocyennhi, sun1911 và 4DHN

    Ngày hoàn thành: 30 Novembre 2013

    MỤC LỤC
    Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    HOÀI THANH
    Tiểu sử
    Tác phẩm
    HOÀI CHÂN
    TẢN ĐÀ
    THỀ NON NƯỚC
    TỐNG BIỆT
    MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
    THẾ LỮ
    NHỚ RỪNG
    TIẾNG TRÚC TUYỆT VỜI
    TIẾNG SÁO THIÊN THAI
    BÊN SÔNG ĐƯA KHÁCH
    CÂY ĐÀN MUÔN ĐIỆU
    VẺ ĐẸP THOÁNG QUA
    GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG
    VŨ ĐÌNH LIÊN
    LÒNG TA LÀ NHỮNG HÀNG THÀNH QUÁCH CŨ
    ÔNG ĐỒ
    LAN SƠN
    VẾT THƯƠNG LÒNG
    TẾT VÀ NGƯỜI QUA...
    ĐÁM MA ĐI
    THANH TỊNH
    MÒN MỎI
    TƠ TRỜI VỚI TƠ LÒNG
    THÚC TỀ
    TRĂNG MƠ
    HUY THÔNG
    ANH NGA
    KHÚC TIÊU THIỀU
    NGUYỄN VỸ
    SƯƠNG RƠI
    GỬI TRƯƠNG TỬU
    ĐOÀN PHÚ TỨ

    MÀU THỜI GIAN
    BÌNH
    XUÂN DIỆU
    TRĂNG
    HUYỀN DIỆU
    TÌNH TRAI
    NHỊ HỒ
    ĐÂY MÙA THU TỚI
    VỘI VÀNG
    CHIỂU
    VIỄN KHÁCH
    TƯƠNG TƯ CHIỀU…
    LỜI KỸ NỮ
    NGUYỆT CẨM
    GIỤC GIÃ
    THU
    BUỒN TRĂNG
    HOA ĐÊM
    HUY CẬN
    BUỒN ĐÊM MƯA
    TÌNH TỰ
    ĐI GIỮA ĐƯỜNG THƠM
    ĐẸP XƯA
    TRÀNG GIANG
    VẠN LÝ TÌNH
    NHẠC SẦU
    NGẬM NGÙI
    THÚ RỪNG
    ÁO TRẮNG
    CHIỂU XUÂN
    TẾ HANH
    QUÊ HƯƠNG
    LỜI CON ĐƯỜNG QUÊ
    VU VƠ
    AO ƯỚC
    YẾN LAN
    BẾN MY LĂNG
    NHỚ
    PHẠM HẦU
    CHIỀU BUỒN

    VỌNG HẢI ĐÀI
    XUÂN TÂM
    XA LẠ
    NGHỈ HÈ
    THU HỒNG
    TƠ LÒNG VỚI ĐẸP
    ÊM ĐỀM
    MẢNH HỔN THƠ
    BÀNG BÁ LÂN
    TRƯA HÈ
    CỔNG LÀNG
    NAM TRÂN
    ĐẸP VÀ THƠ
    HUẾ, NGÀY HÈ
    HUẾ, ĐÊM HÈ
    TRƯỚC CHÙA THIÊN MỤ
    MÙA ĐÔNG
    GIẬN KHÚC NAM AI
    NẮNG THU
    ĐOÀN VĂN CỪ
    CHỢ TẾT
    ĐÁM CƯỚI MÙA XUÂN
    ĐÁM HỘI
    TRĂNG HÈ
    ANH THƠ
    CHIỀU XUÂN
    TRƯA HÈ
    RẰM THÁNG BẢY
    BẾN ĐÒ NGÀY XƯA
    HÀN MẶC TỬ
    BẼN LẼN
    TÌNH QUÊ
    MÙA XUÂN CHÍN
    TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
    AVE MARIA
    ĐÊM XUÂN CẦU NGUYỆN
    RA ĐỜI
    CHẾ LAN VIÊN
    THỜI OANH LIỆT
    TA

    TRÊN ĐƯỜNG VỀ
    ĐÊM TÀN
    HỒN TRÔI
    THU
    XUÂN
    TRƯA ĐƠN GIẢN
    BÍCH KHÊ
    DUY TÂN
    XUÂN TƯỢNG TRƯNG
    J.LEIBA
    NĂM QUA
    MAI RỤNG
    HOA BẠC MỆNH
    BẾN GIÁC
    THÁI CAN
    CẢNH ĐÓ, NGƯỜI ĐÂU?
    CHIỂU THU
    TRÔNG CHỒNG
    ANH BIẾT EM ĐI...
    CẢNH ĐOẠN TRƯỜNG
    VÂN ĐÀI
    TIẾNG ĐÊM
    ĐỖ HUY NHIỆM
    ĐÌU HIU
    HOA TỦI
    SAY
    LƯU KỲ LINH
    ĐỢI CHỜ
    CÀNH HOA THU MUỘN
    CON BƯỚM TRẮNG
    NGUYỄN GIANG
    XUÂN
    CON ĐƯỜNG NẮNG
    MẸ
    QUÁCH TẤN
    ĐÀ LẠT ĐÊM SƯƠNG
    VỂ THĂM NHÀ CẢM TÁC
    ĐÊM THU NGHE QUẠ KÊU
    ĐÊM TÌNH
    MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ

    TRƠ TRỌI
    CHIỀU XUÂN
    BÊN SÔNG
    TÌNH XƯA
    PHAN KHẮC KHOAN
    THÂM TÂM
    TỐNG BIỆT HÀNH
    PHAN THANH PHƯỚC
    ĐÊM TẦN
    LƯU TRỌNG LƯ
    NẮNG MỚI
    THƠ SẦU RỤNG
    GIANG HỒ
    TIẾNG THU
    TÌNH ĐIÊN
    CÒN CHI NỮA
    XUÂN VỀ
    MỘT MÙA ĐÔNG
    CHIỂU CỔ
    DIỆU HUYỀN
    THÚ ĐAU THƯƠNG
    NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
    TAY NGÀ
    CHÙA HƯƠNG
    PHAN VĂN DẬT
    TIỄN ĐƯA
    BI XUÂN NƯƠNG
    NÀNG CON GÁI HỌ DƯƠNG
    ĐÔNG HỒ
    CÔ GÁI XUÂN
    MUA ÁO
    TUỔI XUÂN
    BỐN CÁI HÔN
    MỘNG TUYẾT
    DƯƠNG LIỄU TÂN THANH
    VÌ ANH THỌ XUÂN
    NGUYỄN XUÂN HUY
    GIẬN NHAU
    EM ĐƯƠNG THÊU...
    HẰNG PHƯƠNG

    LÒNG QUÊ
    NGUYỄN BÍNH
    TƯƠNG TƯ
    HAI LÒNG
    GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ
    QUAN TRẠNG
    LẲNG LƠ
    XA CÁCH
    NGƯỜI HÀNG XÓM
    XUÂN VỀ
    VŨ HOÀNG CHƯƠNG
    SAY ĐI EM
    NGHE HÁT
    QUÊN
    PHƯƠNG XA
    MỘNG HUYỀN
    VƯỜN HOANG
    NGUYỄN ĐÌNH THƯ
    ĐẾN CHIỂU
    SANG NGANG
    TỐNG BIỆT
    VƯƠNG TÌNH
    THIỆT THÀ
    T.T.KH.
    TRẦN HUYỀN TRÂN
    NHỎ TO…
    LỜI CUỐI SÁCH

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net

    Hơn nửa thế kỷ trước đây, phong trào Thơ mới đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của
    nền văn học trước Cách mạng tháng Tám của đất nước. Các thi sĩ của thuở ấy đã đem lại cho bạn đọc
    một tiếng nói mới, phản ánh khá trung thực tâm trạng của cả một lớp thanh niên tiểu tư sản trong cuộc
    sống có nhiều đau buồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện trạng của đất nước thời bấy giờ. Với sự
    đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ thuật, Thơ mới thực sự đã thu hút được sự chú ý của khá đông
    bạn đọc yêu thơ và đó cũng là một đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của thể loại và chứng minh
    khả năng biểu đạt phong phú của tiếng Việt.
    Ngay lúc bây giờ hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã sớm nhận ra giá trị ấy và đã kịp thời sưu
    tầm, giới thiệu các thành tựu của phong trào Thơ mới qua tác phẩm Thi nhân Việt Nam và đã cho
    xuất bản vào đầu năm 1942.
    Thi nhân Việt Nam là sự khám phá và đánh giá đầu tiên đối với Thơ mới. Chúng ta đều biết việc
    lựa chọn tác phẩm và tác giả đương thời, nhất là những người mới xuất hiện trên văn đàn, là một việc
    làm hết sức khó khăn, nhưng với sự cảm thụ khá sâu sắc và với cái nhìn tinh tế, các tác giả đã chọn
    được một chùm hoa giàu hương sắc trong vườn thơ mới đã gửi tặng những người yêu thơ. Chính vì thế
    Thi nhân Việt Nam đã được bạn đọc cả nước đón nhận và tán thưởng.
    Đáp đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong và ngoài nước, nhất là của những nhà nghiên cứu, những
    sinh viên văn khoa và đông đảo những người yêu thơ, Nhà xuất bản Văn học cho tái bản tác phẩm Thi
    nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân trong Tủ sách nghiên cứu.
    Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, việc thẩm định lại những gia trị có thể có những thay đổi, nhưng để bảo
    đảm tính lịch sử của một tác phẩm đã xuất hiện trước đây, chúng tôi cho in nguyên văn của tác phẩm.
    Ngoài ra để có thêm tư liệu tham khảo cho bạn đọc, chúng tôi cho in thêm Lời cuối sách.
    Xin trân trọng giới thiệu Thi nhân Việt Nam cùng bạn đọc.
    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

    HOÀI THANH

    Tiểu sử
    Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh năm 1909, ở xã Nghi Trung, Huyện Nghi Lộc, tỉnh
    Nghệ Tĩnh, trong một gia đình nhà nho nghèo có tham gia phong trào chống Pháp của Phan Bội Châu.
    Bắt đầu học chữ Hán, chữ quốc ngữ, rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học. Có tham gia
    phong trào yêu nước của học sinh trong dịp hai cụ Phan về nước. Năm 1927, gia nhập Tân Việt cách
    mệnh đảng. Năm 1930 đang học ở trường Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị đuổi ra khỏi
    trường. Kế đó viết báo, lại bị bắt, bị trục xuất ra khỏi Bắc Kỳ và giải về quê.
    Năm 1931 vào Huế, làm công cho một nhà in, đi dạy học tư, đồng thơi viết văn, viết báo.
    Tham gia tổng khỏi nghĩa tháng 8 - 1945. Từ đó lần lượt làm giáo sư ở Đại học Hà Nội, biên tập
    viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam.
    Hoài Thanh là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Sau kháng chiến chống Pháp, làm vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học
    Nghệ thuật Việt Nam, Viện phó Viện Văn học và Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, ủy viên
    Đảng đoàn văn nghệ, ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Chủ nhiệm tuần báo
    Văn nghệ cho đến đầu năm 1975.
    Nhà văn Hoài Thanh mất ngày 14 - 3 - 1982 tại Hà Nội.

    Tác phẩm

    Trước Cách mạng tháng Tám:
    Viết các báo: “Phổ thông, Le Peuple, La Gazette de Huế, Tràng An, Sông Hương, Tao Đàn. Năm
    1936 cùng với Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều viết quyển Văn chương và hành động (bị chính quyền
    thực dân cấm). Năm 1941 cùng với Hoài Chân biên soạn quyển Thi Nhân Việt Nam.
    Sau cách mạng tháng Tám:
    Đã in: Có một nền văn hóa Việt Nam (1946), Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của
    Nguyễn Du (1949). Nhân văn Việt Nam (1949), Nói chuyện thơ kháng chiến (1951), Nam Bộ mến
    yêu (1955), Quê hương và thời niên thiếu của Bác (cùng viết với Thanh Tịnh 1960), Phê bình và
    tiểu luận, tập I (1960), tập II (1965), tập III (1971), Phan Bội Châu (1978), Chuyện thơ (1978).
    Tuyển tập Hoài Thanh (2 tập, 1982 - 1983). 

    HOÀI CHÂN

    Hoài Chân, em ruột Hoài Thanh, tên thật là Nguyễn Đức Phiên, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1914 ở xã
    Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh.
    Năm 1930, tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1931, giữa lúc đang học ở trường Collège
    Vinh (Cao đẳng tiểu học) thì bị bắt và bị kết án tù một năm.
    Cuối năm 1932, sau khi ra tù, vào Huế kiếm sống đồng thời tự học để thi tú tài.
    Từ 1933, làm tại nhà in Đắc Lập rồi làm báo Tràng An và La Gazette de Huế (Tờ báo thành Huế).
    Cùng với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư xây dựng Ngân Sơn tùng thư (1933 - 1935)
    Năm 1941, cùng với Hoài Thanh biên soạn quyển Thi nhân Việt Nam. Năm 1942, tự xuất bản
    quyển Thi nhân Việt Nam
    Đầu năm 1945, tham gia Việt Minh rồi Tổng khỏi nghĩa tháng Tám ở Huế.
    Sau Cách mạng tháng Tám, lần lượt làm:
    - Chủ nhiệm báo Quyết chiến, cơ quan ủy ban nhân dân Trung Bộ.
    - Phó ban tuyên huấn tỉnh ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An.
    - Trưởng ty Thông tin, Trưởng ty Văn hóa tỉnh Nghệ An.
    - Phụ trách Nhà xuất bản Văn hóa.
    - Phó giám đốc kiêm phó tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học.
    - Giám đốc kiêm tổng biên tập Nhà xuất bản Văn hóa (mới).
    Đã nghỉ hưu.

    Của tin, gọi một chút này làm ghi.
    NGUYỄN DU

    TẢN ĐÀ

    (1889 - 1939)

    CUNG CHIÊU ANH HỒN TẢN ĐÀ
    Hội Tao đàn hôm nay đông đủ hầu khắp mặt thi nhân. Chúng tôi một lòng thành kính xin rước
    anh hồn tiên sinh về chứng giám.
    Anh em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ hai mươi.
    Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ. Tiên sinh sẽ đại diện cho một lớp người để
    chứng giám công việc lớp người kế tiếp. Ở địa vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh.
    Tiên sinh gần chúng tôi lắm. Tiên sinh không mang lốt y phục, lốt tư tưởng của chúng tôi.
    Nhưng có làm gì những cái lốt. Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha,
    nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo. Đôi bài thơ
    của tiên sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng. Tiên sinh đã
    dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa.
    Nhưng dầu sao, với chúng tôi tiên sinh vẫn là một bực đàn anh; chúng tôi không dám xem tiên
    sinh như một người bạn. Tiên sinh còn giữ được của thời trước cái cốt cách vững vàng cái phong
    thái ung dung. Đời tiên sinh tuy bơ vơ, hồn tiên sinh còn có nơi nương tựa. Tiên sinh đã đi qua
    giữa cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi với tấm lòng bình thản một người thời
    trước. Những nỗi chật vật của cuộc sống hàng ngày, những cảnh đời éo le thường phô bày ra
    trước mắt, không từng làm bợn được linh hồn cao khiết của tiên sinh. Cái dáng điệu ngang tàng
    chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn. Cái buồn
    chán của tiên sinh cũng là cái buồn chán một người trượng phu. Thở than có, nhưng không bao
    giờ rên rỉ.
    Bởi vậy cho nên cần phải có tiên sinh trong cuộc hội họp hôm nay. Có tiên sinh người ta sẽ thấy
    rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì
    với quá khứ của giống nòi. Có tiên sinh, trên Tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tin

    tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất.
    Thôi, chúng tôi không muốn nói nhiều. Hội Tao đàn đến lúc mở. Xin tiên sinh hãy khai hội bằng
    ít bài thơ.

    THỀ NON NƯỚC
    - Nước non nặng một lời thề,
    Nước đi, đi mãi, không về cùng non,
    Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
    Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
    - Non cao những ngóng cùng trông,
    Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
    Xương mai một nắm hao gầy,
    Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
    Trời tây chiếu bóng tà dương,
    Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
    Non cao tuổi vẫn chưa già,
    Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
    Dù như sông cạn đá mòn,
    Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
    - Non xanh đã biết hay chưa?
    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
    Nước non hội ngộ còn luôn,
    Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
    Nước kìa dù hãy còn đi,
    Ngàn đâu xanh tốt non thì cứ vui.
    - Nghìn năm giao ước kết đôi,
    Non non nước nước không nguôi lời thề.

    TỐNG BIỆT
    Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
    Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.
    Nửa năm tiên cảnh,

    Một bước trần ai.
    Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
    Đá mòn, rêu nhạt,
    Nước chảy, huê trôi.
    Cái hạc bay lên vút tận trời!
    Trời đất từ nay xa cách mãi.
    Cửa động,
    Đầu non,
    Đường lối cũ,
    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi.

    MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
    Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không thay đổi, về hình thức cũng
    như về tinh thần. Triều đại tuy bao lần hưng vong, giang sơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến
    cố về chính trị ít khi ba động đến sự sống của nhân dân. Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có bấy
    nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ
    cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định. Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống
    trong không gian.
    Nhưng, nhất đán, một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến. Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung
    lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ.
    Phải trở lại cái thời tổ tiên ta mới tiếp xúc với người Trung Hoa, hơn nữa, phải trở lại cái thời
    [1]
    giống người Anh đô nê diêng lần thứ nhất để chân vào lưu vực sông Hồng Hà mới hòng tìm được
    một cuộc biến thiên quan trọng như vậy.
    Trước mắt chúng ta bỗng bày ra những cảnh lạ lùng chưa bao giờ từng thấy. Lúc đầu, ai nấy đều ngơ
    ngác, không hiểu ra làm sao. Nhưng rồi chúng ta quen dần.
    Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe
    lửa, xe đạp... còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa
    tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình
    ngày trước. Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây. Đừng tưởng tôi nguỵ biện.
    Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có
    ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn
    đường cho tư tưởng mới. Trong công cuộc duy tân, ảnh hưởng của nó ít ra cũng ngang với ảnh hưởng
    những sách nghị luận của hiền triết Âu Mỹ, cùng những sách cổ động của Khang, Lương. Sĩ phu nước
    ta từ xưa vốn chỉ biết có Khổng Tử, bắt đầu dẫn Mạnh Đúc Tư Cưu với Lư Thoa. Họ bắt đầu viết
    quốc ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây. Câu văn của họ cũng bắt đầu có cái rõ ràng, cái
    sáng sủa của văn tây. Những tư tưởng phương Tây đầy dẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam
    Phong tạp chí, và từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học. Người ta đua nhau cho con
    em đến trường Pháp Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp. Thế rồi có những người Việt Nam
    đậu kỹ sư, đậu bác sĩ, đậu thạc sĩ; có những người Việt Nam nghiên cứu khoa học, triết học; và có
    những người Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt Nam.
    Bấy nhiêu sự thay đổi trong khoảng năm sáu mươi năm! Năm sáu mươi năm mà như năm sáu mươi
    thế kỷ! Nhưng cuộc Âu hóa không phải chỉ có thế. Nó đã đi qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng;
    nó còn phải đi qua một giai đoạn nữa. Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay
    đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa. Những hình thức
    mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là
    những lợi khí Âu hóa trong giai đoạn thứ ba này.
    Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước,
    buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy
    mối tình như con người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ hai mươi,

    những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại.”... Các cụ ta
    ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt... Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya;
    ta nao nao vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như đã làm một
    điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là
    sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muốn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình
    gần gụi, cái tình xa xôi... cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu...” Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà
    tha thiết của Ô. Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi năm 1934 đã vạch rõ tâm lý của lớp thanh
    niên chúng ta.
    Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ
    là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát
    vọng khẩn thiết đến đau đớn. Chính Ô. Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi
    mai 1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người thi nhân của mình như
    người con đi tìm mẹ”.
    Đã thế, không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để
    kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu
    từ hồi nước ta sát nhập đế quốc Pháp và, xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn - Trịnh phân tranh, lúc người Âu
    mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng
    với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ nảy thành thơ mới.
    *
    *

    *

    Nhưng tìm nguồn gốc thơ mới mà chỉ nói xa xôi thế, công việc nhà viết sử cũng khí dễ dàng. Ta hãy
    tìm những nguyên nhân gần gụi hơn cùng những triệu chứng của phong trào thơ mới.
    Đã lâu, người mình làm thơ hầu hết chỉ làm những bài tám câu, mỗi cầu bảy chữ. Theo Ô. Phan
    [2]
    Khôi , lỗi ấy phải quy cho khoa cử. Phép thi ngày xưa bắt học trò vào trường nhì làm một bài thơ
    theo thể thất ngôn luật. Thể thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường, nhưng khi người ta đưa
    nó vào khoa cử, nó còn bó buộc gấp mấy luật Đường. Theo luật Đường trong một bài thơ tám câu, bốn
    câu giữa gọi là câu tam tứ, câu ngũ lục và muốn nói gì thì nói. Phép khoa cử bắt phải gọi câu tam tứ là
    câu thực, nghĩa là phải giải thích đầu đề cho rõ ràng, hai câu ngũ lục là câu luận, nghĩa là phải đem ý
    đầu bài mà bàn rộng ra. Thí sinh làm thơ nhất định phải theo quy mô ấy. Không theo, hỏng.
    Nhưng chính phủ Bảo hộ lần lượt bỏ chế độ khoa cử, ở Nam Kỳ (1864?), ở Bắc Kỳ (1915), ở
    Trung Kỳ (1918). Khoa cử bỏ, thể thất ngôn luật cũng theo đó mà mất địa vị độc tôn. Năm 1917 nó bị
    [3]
    Ô. Phạm Thượng Chi công kích trong một bài bàn về tâm lý lối thơ ấy - Ông bảo: “Người ta thường
    nói thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho nghề làm thơ thực là muốn
    chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn, trúng vần trúng điệu hơn, nhưng cũng nhân đó mà
    làm mất cái giọng thiên nhiên đi vậy”. Tiếp đó ông phê bình bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà huyện
    Thanh Quan:
    “Rằng hay thì thực là hay.
    Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy”.
    Thời oanh liệt của thất ngôn luật đã đến lúc tàn.

    Năm 1928, nó bị Ô. Phan Khôi công kích trên Đông Pháp thời báo. Ông Phan trách thể thơ “bó
    [4]
    buộc quá mà mất cả sanh thú” .
    Năm 1929, trên báo Phụ nữ tân văn Ô. Trịnh Đình Rư lại công kích nó một lần nữa và hô hào
    [5]
    người ta lưu tâm đến lối lục bát và song thất lục bát, là những lối thơ đặc biệt của ta .
    Thực ra, từ trước, trên sách vở báo chương thỉnh thoảng thất ngôn luật cũng đã phải nhường chỗ cho
    lục bát, song thất lục bát, cổ phong, từ khúc.v.v... Lác đác người ta còn thấy xuất hiện những bài không
    niêm, không luật, không hạn chữ, hạn câu. Ấy là bài dịch thơ ngụ ngôn La Cigale et la Fourmi của
    [6]
    Nguyễn Văn Vĩnh :
    Con ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè
    Đến kỳ gió bấc thổi
    Nguồn cơn thật bối rối...
    [7]

    Ấy là những bài gọi là thơ buông
    một trò cười cho chúng ta hồi nhỏ.

    của một sinh viên trường Cao đẳng. Ô. Lê Khánh Đồng, đã làm

    Những bài như thế mà dám mạo danh là thơ, cứ thời bấy giờ thực đáng khép vào tội phạm thượng.
    Một sự biến cố dường ấy mà xảy ra được, dầu không được công nhận, cũng đủ chứng rằng cái thời
    vận luật Đường đã cực kỳ suy vi.
    Khuôn khổ bài thơ bắt đầu rạn nứt. Một sức mạnh đương ngấm ngầm hoạt động trong tâm linh nòi
    giống. Nói cho đúng, chúng ta cũng chỉ phỏng đoán chứ thực ra chưa thấy gì. Thi thể có ít nhiều thay
    đổi mà thi tứ vẫn như xưa. Chỉ trong đôi bài thơ của Tản Đà mới thấy phảng phất chút bâng khuâng,
    chút phóng túng của thời sau. Ngoài ra, người ta vẫn ca đi hát lại bấy nhiêu đề thơ bằng bấy nhiêu
    giọng thơ không di dịch. Cửa hé mở từ lâu nhưng ngọn gió xa đón hoài không thấy tới. Xã hội Việt
    Nam chưa đến tuần thành thục. Chưa có thể nhóm đậy một cuộc cách mệnh về thi ca.
    *
    *

    *

    [8]
    Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10 mars 1932 . Lần
    đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ thủng. Ô. Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân,
    dõng dạc bước ra trận. Ông tự giới thiệu: “Trước kia... ít ra trong một năm tôi cùng có được năm bảy
    bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là
    năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết án thơ cũ! “Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên
    bị mất chơn”. Bởi vậy ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những
    câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ mới.
    Hồi bấy giờ Phụ nữ tân văn đương thời cực thịnh. Những lời nói của ông Phan được truyền bá đi
    [9]
    khắp nơi. Cái bài thơ mới “Tình già” ông dẫn ra làm thí dụ, không rõ có được ai thích không,
    nhưng một số đông thanh niên trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời vì cái táo bạo giấu giếm của
    mình đã được một bực đàn anh trong văn giới công nhiên thừa nhận.

    Lần lượt những bài thơ mới, vốn làm từ trước, được đưa lên mặt báo. Người hưởng ứng thứ nhất là
    Ô. Lưu Trọng Lư. Sau khi đăng bài của Ô. Phan Khôi chẳng bao lâu, Phụ nữ tân văn nhận được một
    bức thư hoan nghênh ký cô Liên Hương (Faifo), một bài thơ mới “Trên đường đời” ký Lưu Trọng Lư
    và một bài nữa “Vắng khách thơ” ký Thanh Tâm. Ký nhiều tên cho rộn thế thôi chứ đi lại cũng chỉ một
    người. 'Tình già”, “Trên đường đời”, và “Vắng khách thơ” là ba bài mang tên thơ mới được đăng báo
    [10]
    trước nhất. Trong ba bài ấy thì bài thứ ba đã là một bài có giá trị
    . Kế đó, Phụ nữ tân văn còn
    đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn Thị Kiêm), của Hồ Văn Hảo và nhiều người
    nữa.
    Nhưng rồi phong trào thơ mới chuyển ra đất Bắc và được một cơ quan ngôn luận khác ủng hộ một
    cách đắc lực hơn.
    Báo Phong hóa tập mới ra đời ngày 22 Septembre 1932. Ngay số đầu đã có bài công kích thơ
    Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”. Từ đó cho đến cuối năm
    1932, Phong hóa không đăng thơ mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn giễu thơ cũ
    bằng cách giễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài “Cảm thu tiễn thu” của Tản Đà
    đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông Sơn và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ
    so sánh cảnh thực với cảnh mộng trong trí tưởng thi nhân. Tú Mỡ viết:
    Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,
    Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!
    Trên dường đi nóng dãy như rang,
    Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!

    Phá hoại rồi họ kiến thiết. Nhận được của Ô. Lưu Trọng Lư bức thư gửi cho Ô. Phan Khôi mấy
    tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa số Tết ra ngày 24 janvier 1933 cùng với ít bài thơ
    mới của Lưu Trọng Lư, Tân Việt, Thế Lữ. Tiếp theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ
    Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông.
    Các báo chí khác cũng đua nhau đăng thơ mới. Ở Huế, Ngân Sơn tùng thư ra đời ngày 15
    [11]
    Septembre 1933, liền xuất bản với ít truyện ngắn, một tập thơ mới của Lưu Trọng Lư
    .
    Thơ mới đã bắt đầu có cơ sở. Trong làng thơ mới người ta càng sốt sắng thêm. Từ hai tháng trước,
    hôm 26 juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội Khuyến học
    Sài Gòn hết sức tán dương thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm. Lần
    thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe
    như thế.
    Nối gót cô Nguyễn Thị Kiêm, còn nhiều diễn giải cũng theo một mục đích: giành lấy phần thắng cho
    thơ mới:
    Juin 1934: Ô. Lưu Trọng Lư diễn thuyết tại nhà Học hội Quy Nhơn.
    Janvier 1935: Ô. Đỗ Đức Vượng diễn thuyết tại hội Trí tri Hà Nội.
    Janvier 1935: cô Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài Gòn để tranh luận với Ô.

    Nguyễn Văn Hanh.
    Novembre 1935: Ô. Vũ Đình Liên diễn thuyết tại hội Trí tri Nam Định.
    Fébrier 1936: Ô. Trương Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại hội Khai trí tiến đức Hà Nội.
    Trên báo chương cũng luôn luôn có những bài bênh vực, khích lệ thơ mới. Ô. Lưu Trọng Lư gửi hai
    [12]
    bức thư lên Khê Thượng nói chuyện thơ mới với Tản Đà
    . Ô. Lê Tràng Kiều viết tám bài ca tụng
    [13]
    các nhà thơ mới để trả lời Ô. Tùng Lâm và Ô. Thái Phi
    . Ngoài ra còn bao nhiêu bài nữa.
    Ở cái xứ vô sự này, câu chuyện câu thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của một số đông thanh niên
    nam nữ. Nhưng đã đến lúc những lời hùng biện trở nên vô dụng. Những thi sĩ có danh đã ra đời: Thế
    Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, J.Leiba, Thái Can. Trong khoảng bốn năm, đã
    sản xuất rất nhiều bài thơ có giá trị. Và những bài thơ ấy, nhất là những bài của Thế Lữ, không trống
    không kèn đã bênh vực một cách vững vàng cho thơ mới.
    1935, cái năm đại náo trong làng thơ, đi qua. Bước sang 1936 sự toàn thắng của thơ mới đã rõ rệt.
    Đề tựa tập Những áng thơ hay, Ô. Lê Tràng Kiều bàn nên xóa bỏ hai chữ thơ mới. Vì “hai chữ thơ
    mới là biểu hiện một cuộc cách mệnh đương bồng bột” mà “cuộc cách mệnh về thi ca ngày nay đã yên
    lặng như mặt nước hồ thu”. Ô. Lưu Trọng Lư nở một nụ cười kiêu hãnh, đăng trên Hanoi báo (19-21936) một bài thơ thất ngôn sách họa kết bằng hai câu:
    Nắn nót miền sao nên bốn vế,
    Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.
    Cái cười khinh mạn của người chiến thắng kể không có gì đáng ưa. Thế Lữ, khôn hơn, chỉ lẳng lặng
    nói chuyện với người đồng hương - những người trong làng thơ mới. Từ mục “Lá thắm” của Tinh hoa
    đến mục “Tin thơ” của Ngày nay, từ mai 1937 đến octobre 1938, Thế Lữ chăm chú dạy nghề thơ cho
    những ai nuôi giấc mộng một ngày kia trở nên thi sĩ.
    Thơ mới ra đời ngày một nhiều, cái danh hiệu thơ mới mất dần trên sách báo. Thi đàn đã vắng tiếng
    cãi nhau. Cho đến hồi juin năm nay, vì chuyện thơ mới, Ô. Huỳnh Thúc Kháng và Ô. Phan Khôi bắt bẻ
    [14]
    lẫn nhau
    , làng thơ Việt Nam không mấy ai để ý đến những lời qua tiếng lại giữa hai ông già ấy.
    Tấn kịch mới cũ trong phạm vi thi ca đã kết liễu. Thơ mới đã giành được quyền sống. Nó chiếm hầu
    [15]
    hết báo chí sách vở, đã len vào đến học đường
    . Mà đã vào học đường, nhất là ở nước ta, tức là
    thanh thế đã to lắm.
    *
    *

    *

    Trước sự bành trướng mãnh liệt của thơ mới, trước mọi sự hô hào rầm rộ của những người trong
    phái mới, làng thơ cũ đã phản ứng như thế nào?
    Août 1933: Một tuần sau cuộc diễn thuyết thứ nhất của cô Nguyễn Thị Kiêm, Ô. Tân Việt, bình bút
    [16]
    báo Công luận
    bênh vực thơ cũ tại diễn đàn hội Khuyến học Sài Gòn.
    Octobre 1933: Văn học tạp chí, Hà Nội, chê các nhà thơ mới không biết cân nhắc chữ dùng.

    Novembre - décembre 1934: Tản Đà nói chuyện thơ mới, thơ cũ trên Tiểu thuyết thứ bảy.
    Décembre 1934: Trên Văn học tạp chí Ô. Hoàng Duy Từ phản đối bài diễn thuyết của Ô. Lưu
    Trọng Lư tại nhà Học hội Quy Nhơn.
    9 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài Gòn.
    16 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh lại diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài Gòn cùng một hôm
    với cô Nguyễn Thị Kiêm (diễn thuyết tranh luận).
    Avril 1935: Hai Ô. Tường Vân và Phi Vân xuất bản tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa ở Vinh.
    Juin 1935: Ô. Tùng Lâm Lê Cương phụng công kích thơ mới trên Văn học tuần san, Sài Gòn.
    Avril 1936: Ô. Thái Phi công kích thơ mới trên báo Tin văn, Hà Nội.
    Août 1937: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết ở hội Quảng tri Huế.
    Juin 1941: Ô. Huỳnh Thúc Kháng, sau nhiều lần chỉ trích và mạt sát, nói cả quyết rằng thơ mới đã
    đến ngày mạt vận.
    *
    *

    *

    Cũng rộn đấy chứ! Cái cảnh thơ cũ lúc tàn không đến nỗi buồn tẻ, thảm hại như cái cảnh suy vi của
    nền Khổng học. Năm 1930, Ô. Phan Khôi viết trên báo Thần chung ở Sài Gòn một thôi hai mươi mốt
    bài chỉ trích Khổng giáo. Thế mà những môn đồ đạo Khổng còn sống sót nguội lạnh như không. Tinh
    [17]
    thần Khổng giáo ở nước ta đã bạc nhược lắm vậy. Tinh thần thơ cũ
    có phần tráng kiện hơn. Gặp
    cơn nguy biến, còn có người ra tay chống chọi. Nhưng rồi cũng không sao cứu vãn được tình thế. Chỉ
    có một người hoặc có thể làm nên chuyện. Người ấy là Tản Đà một nhà thơ có tài. Nhưng đối với
    phong trào thơ mới, Tản Đà lại hết sức dè dặt. Một người nữa, Ô. Hoàng Duy Từ, trên Văn học tạp
    chí, cũng có nhiều câu có lý, nhưng ông lại chủ trương cái thuyết của A. Chénier: tứ mới lời xưa. Và
    như thế ý kiến ông giống hệt nhiều nhà thơ mới.
    Còn các người khác họ lập luận đại khái bất ngoại mấy lối này:
    Hoặc họ cho những nhà thơ mới là một bọn mù:
    Chẳng khác anh mù lại nói mơ
    Chẳng qua một bọn dốt làm thơ

    [18]

    Ý họ nghĩ rằng người ta làm thơ mới là chỉ vì luật thơ Đường khó. Nhưng từ août 1933, thuật lại
    cuộc diễn thuyết của Ô. Tân Việt, Phụ nữ tân văn đã trả lời trước họ: “Thơ tám câu cũng không phải
    khó gì. Nhiều người chỉ học trong nửa tiếng đồng hồ là thuộc và có thể làm đúng niêm luật. Các báo
    hàng ngày vẫn đăng luôn bao nhiêu là thơ bát cú của nhiều thí sĩ chỉ học trong có mấy ngày là “thành
    tài”... Chúng tôi dám quả quyết như vậy là vì từ khi có báo quốc ngữ đến nay, đã vài mươi năm, ở
    mục văn uyển các báo, thơ tám câu, bốn câu mọc ra không phải như hoa lan, hoa huệ, hoa hồng, mà
    [19]
    như nấm”
    .
    Hoặc họ dẫn ra ít bài thơ mới lủng củng lủng ca để công kích cho tiện rồi kết luận theo lối cái nhà
    thơ cũ nào đó đã gửi cho Ô. Lam Giang một bài bát cú chê thơ mới:

    Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn
    Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ
    So với Á học như dưa đắng
    [20]

    Sánh với Âu văn tựa mít xơ...

    Họ quên rằng chính những nhà thơ mới đã công kích thơ mới tàn nhẫn nghĩa là công kích những bài
    mới bất thành thơ. Phong trào thơ mới xuất hiện được hơn một năm thì trên báo Phong hóa đã thấy
    [21]
    những bài thơ nhại của Thế Lữ và của Khái Hưng
    .
    Công kích những bài thơ mới lủng củng là một chuyện thừa vậy. Công kích được những bài có giá
    trị mới mong tiệt được mầm thơ mới. Nhưng đã có giá trị thì còn biết công kích thế nào!
    Đó là chưa nói đến những người như Ô. Nguyễn Văn Hanh: Ba lần Ô. Hanh lên diễn đàn công kích
    thơ mới là ba lần tai hại cho nền thơ cũ. Con gấu của La Fontaine cũng không thể vụng về hơn.
    Như thế thì làm sao hòng đối phó với một bọn vừa khôn vừa ranh. Họ lầm lỗi, họ tự phê bình lấy
    không dợi người khác chỉ trích. Mà khi họ đã chỉ trích ai thì khó mà cất đầu lên được. Cô Bích Ngọc
    để tựa lời khuyên của cô chỉ thêm vào mấy chữ: “... dù ao nhà ấy đầy những bùn, những vẩn. Tôi buồn
    rằng người thục nữ có duyên đến thế lại kém vệ sinh”.
    Nhưng nguy nhất cho những người bênh vực thơ cũ là trong tám chín năm luôn thơ mới sản xuất ra
    tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa khuyên làng thơ nên bỏ “ao ngoài”...
     
    Gửi ý kiến

    💕💕 “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama💕💕