Văn hóa đọc trong thời đại số
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Kể chuyện nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tươi
Ngày gửi: 08h:31' 05-07-2024
Dung lượng: 313.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tươi
Ngày gửi: 08h:31' 05-07-2024
Dung lượng: 313.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
KỂ CHUYỆN NHÀ GIÁO KIỆT XUẤT CHU VĂN AN
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Kể chuyện nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An
(Đinh Mạnh Thoại)
Mục lục :
Lời nói đầu
1. Thiếu thời - quá khứ còn mờ ảo
2. Trường Huỳnh Cung - cái nôi dạy chữ và dạy đạo làm người
3. Những tấm lòng của người dạy học có tâm huyết
4. Tiếp xúc triều đình và những nhức nhối ban đầu trong lòng Chu Văn An
5. Gần Hoàng Thượng Minh Tông Và Được Giao Phó Việc Dạy Thái Tử
6. Cái tâm kẻ sĩ dạy học và môi trường quá phức tạp
7. Nỗi khổ còn gánh chịu của Chu Văn An ở triều đình
8. "Thất trảm sớ" và những lời bàn bạc thế kỷ sau
9. Lại bước ngoặt đời Chu Văn An - vẫn tiếp tục dạy học ở núi xanh Chí Linh
10. Chu Văn An - tình thơ - tình người
11. Chu Văn An - Mãi mãi, ở ông, tồn tại sao Bắc Đẩu và mãi mãi ngời sáng sao Khuê
Lời nói đầu
Có lẽ, trong sự nghiệp "trồng người", nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An là hãn hữu, có thẻ nói số
một, từ trước đến nay.
Không phải, vì ông có tuổi nghề 40 năm.
Cũng chưa phải, vì ông là Tư nghiệp Quốc Tử giám, trường Đại học đầu tiên ở nước ta.
Cũng chưa đúng, trong hàng nghìn học trò ông dạy, đa phần trưởng thành, có người làm Tể
tướng. Hoặc có cả học trò huyền thoại, con vua Thủy tề cũng đến học, do tiếng tốt của trường
Huỳnh Cung ông dạy, vang xa đến tận Long cung.
Trong chế độ phong kiến, cuộc đời ông không khỏi thăng trầm, nhưng nghề dạy học, đã có lý
tưởng và lẽ sốgn của ông, nên dù hoàn cảnh nào, ông cũng không bỏ dạy học.
Đỗ đạt cao - tương truyền ông đỗ Thái học sinh - nhưng, đêm này sang đêm khác, ông chong
đèn đọc sách, định ra bài giảng, nghiền ngẫm ý tứ giảng cho từng đối tượng học trò. Sáng sáng,
dù là ông giáo làng ở trường Huỳnh Cung, là Tư nghiệp ở Quốc Tử giám, hay là Tiều Ẩn (người
tiều phu ở ẩn) ở vùng núi Chí Linh, ông đều cần mẫn giảng bài.
Hình như trong mỗi bài giảng, ông như con tằm nhả tơ, tơ phải vàng óng, để dệt cho học trò
những "tấm áo" kiến thức, tâm hồn thật đẹp mà chỉ học thầy Chu, học trò mới được diễm phúc
ấy.
Sách ông dạy học trò, đều là sách kinh điển của Nho giáo, theo chương trình mộng học (vỡ
lòng), ấu học (tạm so sánh tiểu học), trung tập (trung học), đại tập (đại học). Nhưng hơn ai hết,
Chu Văn An thấy nghề dạy học rất khó, hiệiu quả từng bài giảng gần như trừu tượng và vô hình,
len lỏi trong tâm khỏi học sinh, như giọt mật li ti nhỏ, được vắt khéo từ nhụy hoa, của người
thầy phải chắt lọc kiến thức và nhào nặn bằng tấm lòng của mình và phải từ sâu thẳm trái tim
mình để truyền đến từng học trò. Một thầy giáo như Chu Văn An, không bao giờ tự cho bài
giảng của mình là đã đủ, đã hay. Vì thế ông không ngừng học tập, đọc sách và nghiền ngẫm
thêm nghĩa lý của sach cho bài giảng ngày càng rộng mở.
Bởi vì, từng chữ, từng ý, nhất là chữ, ý ấy, lạ kinh điển, nghĩa là sàng lọc qua bao thời gian vẫn
óng ánh sức sống, nên thầy Chu chuẩn bị giảng bài, đâu đơn giản như cái máy nói?
Vẫn ý tưởng thuộc lòng ấy của câu nào đó trong Thánh Kinh, nhưng lòng người dạy có rộng mở,
mê si với nghề, mới có khám phá, khám phá hơn cả người được trang bị hiện đại lặn sâu dứoi
đáy biển, kỳ thú trước thiên nhiên mới mẻ, nhìn chỗ nào cũng đẹp. Nhưng chữ nghĩa bài giảng,
đâu nhìn bằng mắt mà khám phá được chiều sâu của nó?
Người viết ra chữ nghĩa kinh điển ấy, đã từng bao năm tích lũy kinh nghiệm đời và kiến thức,
lại đã từng cân nhắc, rung động thế nào, mới mày mò được cái thần con chữ.
Người dạy như thầy Chu, đâu phải thuộc lòng để dạy trơn tru? Có tìm được ngọc quí nơi con
chữ, lại không phải mắc bệnh "thị trường": có ngọc, thì bán đi. Ngược lại, thầy Chu tâm niệm
nghiêm túc "bán" thế nào và "bán" cho ai? Nghĩa là, bài giảng của thầy Chu nồng đượm tình ý
người xưa, đẻ chuyển nó thành chất dinh dưỡng, học trò thấy bổ ích, hấp thụ với tất cả sự tin
tưởng, kính yêu thầy giáo.
Sinh năm 1292 và mất năm 1370, Chu Văn An, tuổi thiếu thời và lớn lên di học, được may mắn
sống trong hào khí Đông A, nhà Trần ba lần chiến thắng Nguyên - Mông. Ông không đi lối mòn
làm quan, lấy cứu cánh là vinh thân phì gia.
Người con trai, người thầy giáo gần kinh đô có "hoài bão" trồng người, "lấy trồng người" là lẽ
sống cao đẹp để theo đuổi, suốt cả cuộc đời.
Bởi thế, mở trường tư Huỳnh Cung tại quê nhà và gần kinh đô, ông giảng dạy tận tình và lôi
cuốn. Rồi, tiếng lành đồn xa, ông được vời vào kinh làm Tư nghiệp Quốc tử giám dạy hai đời
vua, Hiểu Tông và Dụ Tông.
Nhưng đời Hiểu Tông, rồi sau là Dụ Tông, là lúc triều Trần suy vi, tất nhiên cỏ dại, sâu đục lá đã
dần phá tan cơ nghiệp đời Trần. Những con sâu đục lá ấy, là lớp gian thần, bằn gmọi thủ đọan
tinh vi, dẫn dắt hai vua tha hóa, biến chất đến kinh khủng.
Đời Dụ Tông, cực chẳng đã, ông dâng sớ "Thất trảm", hì cũng là lúc ông tíep theo sự khẳng khái,
treo áo từ quan về ở ẩn mở trường dạy học và ngao du sơn thủy. Khi ấy, tuổi đã cao, nhưng vốn
là họa mi, sao ôgn tự cấm mình không được hót? Nghĩa là, "trồng người" đã cấu thành máu
thịt, thành hơi thở của ông, sao lại dừng được? Dừng, có nghĩa là đang sống trên cõi đời này mà
như đã chết rồi sao?
Không, Chu Văn An đi giày cỏ nhưng ông vẫn lại tiếp tục dạy học ở Chí Linh, lấy dạy học làm
nguồn vui.
Ngoài dạy học ra, Chu Văn An còn làm thơ, còn trước tác. Dù văn kiện "Thất trảm sớ" , không
dày về số trang, nhưng lại rất dày về tâm huyết. Khí phách ông, danh sĩ, danh nho đời đời sau
đều đánh giá là "động trời"! Tứ thư thuyết ước, khá cnào sự tinh luyện tài tình của bộ óc uyên
thâm và trái tim nồng hậu cống hiến cho sự nghiệp "trồng người"? Quốc ngữ thi tập, Y học yếu
giải, những tác phẩm giá trị vô song ấy, nhất là Thất trảm sớ, đã bị quân Minh vơ vét sạch đem
về nước cùng bao sách quý của ta. Nhưng người xưa đánh giá không ngoa: Chu Văn An là sao
Bắc Đẩu, là sao Khuê vẫn mãi chiếu sáng.
Với cuốn "Kể chuyển nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An", tác giả, cũng là nhà giáo trọn đời dạy học,
tự mạo muội và bạo tay hư cấu, trên cơ sở tư liệu xác thực đã có về Chu Văn An. Tác giả xác
định tự có tội với Chu Văn An, nếu lực không chiều theo cái tâm của mình. Đồng thời, cũng
không tránh được khiếm khuýêt với độc giả đáng quý khi đọc sách này. Xin thành tâm cáo lỗi
và mong các vị chỉ bảo thêm.
Đinh Mạnh Thoại
1. Thiếu thời - quá khứ còn mờ ảo
Hôm ấy, ngồi đọc Kinh Sử, từ sáng sớm cho đến khi ánh nắng chỉ còn thấp thoáng ngoài dại
nứa hiên nhà, tự nhiên chàng trẻ tuổi Chu Văn An thấy thấm mệt hơn mọi ngày.
Qua kẽ hở của dại nứa, một con gà mái, vuốt chân cần mẫn bới cỏ, chốc chốc lại cục cục gọi đàn
gà con, lông tơ vàng mịn, mỏ kêu chiếp chiếp, chạy theo đúng chỗ gà mẹ vừa vạch cỏ giữ mồi.
Phía xa, cạnh bờ rào dâm bụt, con trống sục vào sát rễ dâm bụt, cũng cục cục mấy tiếng. Vài
chú gà con lớn hơn, nhanh chân chạy lại chỗ gà bố, tranh nhau mấy con sâu đang ngoe ngoảy
chạy trốn, nhưng vô ích.
Ý tứ trang sach Kinh Sử len lỏi trong đại não, mà chưa bừng sáng, chưa khám phá được chìeu
sâu chữ nghĩa, Văn An như phân tán tư tưởng khi nhìn đàn gà, cảnh gà bố gà mẹ cả ngày quanh
quẩn tìm mồi ít ỏi để nuôi con.
Lúc ấy, bà Lê Thị Chiêm, về chợ và vào đến cổng, đầu đội thúng gạo, tay cắp bó bã mía. Hình
ảnh này, quá quen thuộcvới Chu Văn An. Chàng thừa hiểu ràng, sáng tinh mơ mẹ đi chợ, cái
thúng úp trên vai, trong thúng lục cục chỉ có cái đấu mang theo. Có gì đâu, những ngày nông
nhàn, mẹ chạy chợ kiếm thêm.
Vốn liếng chẳng có, nhưng nhờ xốc nổi tháo vát, phiên chợ nào cũng vậy, bà đến chỗ người ta
lấy thóc nhà ra xay, giã thành gạo bán để mua chịu. Bà Chiêm vục đấu vào đong, đinh giá và
sang thúng. Rồi bà nhanh chân, đội thúng gạo ra một phía khác dãy hàng gạo, chờ khách. tính
mau mắn, cứ lãi chút ít, bà lại sang thúng bán cho n gười đến chợ chậm hơn. Còn bã mía, bà
nhặt ở chợ, bó lại về phơi, tiết kiệm rơm.
Như đã quen biết và thành lệ tin cậy, dù bà chưa có tiền trả người ta vẫn bán gạo trước cho bà,
vì họ dư giả hơn, tranh thủ mua sắm, đến khi họ xong việc thì cũng vưa hay bà gặp họ, trả tiền
sòng phẳng. Hình như bà Chiêm có duyên bán hàng, nên mỗi phiên chợ, bà cứ vòng quay động
tác ấy, chỉ vài lần, đã thúng rỗng mang về. Khác buổi tinh mơ, đi chợ về là có đấu gạo, sóc cua
và mớ cá vụn, nhưng còn tươi, đủ hai bữa thức ăn cho mẹ con.
Bà Chiêm đã vào đến sân, Văn An cũng vừa đến chỗ mẹ.
- Mẹ để con đỡ thúng xuống cho nào.
- Dào ơi, thời buổi làm ăn, ngưoiừ khôn của khó, có lẽ mẹ sẽ làm hàng sáo, chịu khó kiếm bữa
cho mẹ con ta, mẹ làm được mà!
Cả gà trống, gà mái mẹ, dẫn đàn gà con đi xa hơn, ra phía cổng đầu ngõ, trông vui mắt và hạnh
phúc. Trở lại với cảnh đời thường, Văn An rộn lên nỗi thương mẹ và không dấu diếm xúc cảm:
- Mẹ, mẹ quá vất vẻ vì con!
- Dào ơn, con cứ hay nói thế, hoàn cảnh mẹ con ta, mỗi người gắng mỗi việc. Rồi bà âu yếm: mẹ
hết lòng nuôi con thành người, còn con hết lòng vào dùi mài kinh sử, đời con được rạng rỡ, mẹ
cũng được thơm lây!
- Mẹ, con vẫn thường ghi nhớ lời mẹ dạy, mẹ hãy tin tưởng ở con.
Bà Chiêm như đựoc động viên, nói:
- Khi dạy con, cha con thường chú ý đến đạo học và đạo hiếu...
Bà ngừng nói, nét mặt vương vất trầm tư. Biết cha vắng nhà từ lâu không về, khôgn biết biết vì
công việc hoặc gặp rủi ro gì, mẹ nén buồn và dốc vào nuôi mình ăn học. Văn An cả ngày chăm
chỉ dùi mài kinh sử.
Hơn lúc nào hết, Văn An thấm thía, anh cởi mở với mẹ:
- Cha con vắng nhà, nhưng con luôn nhờ đến đạo hiếu cha con dặn, mà mẹ cũng vừa nêu.
Những năm tháng làm bạn với chồng, bà cũng thường được nghe chồng nói với Văn An. Dù bà
không biết chữ, nhưng tấm lòng người vợ đối với chồng, tấm lòng người mẹ đối với con, từ cõi
lòng chân thành, trong sáng của mình, bà cũng thường nói được những lời hay lẽ phải với con,
không trái ngược với đạo thánh hiền mà con bà vẫn đọc. Và hôm nay, chạy chợ may mắn kiếm
được hơn đấu gạo, gnhe Văn An nhắc đến đạo hiếu, bà như tự dốc lòng bà ra, phụ họa với con
để giữa mẹ con, có sự hiểu nhau hơn.
- Chắc concòn nhớ, khi dạy con đạo hiếu, cha con thường nói: "Làm người, chữ hiếu là cái gốc
của tất cả đức hạnh, hiếu thảo với cha mẹ và tôn kính anh em, là thuận với đạo đức.
- Con luôn ghi nhớ điều đó: Người xưa nói, lấy hiếu thảo để cai trị thiên hạ, như vậy từ các vị
hoàng đé và các quan trong triều đến các chức sắc ở huyện, xã, hương đều phải coi trọng đạo
hiếu.
Ánh mắt bà Chiêm như sáng lên, Văn An phấn khởi cởi mở, coi đó là niềm vui và sự cảm giữa
mẹ con của một nhà có gia pháp.
- Mẹ ạ, sách xưa còn dạy: bậc trung thần xuất phát từ con người có hiếu, một con ngưoiừ trong
nhà không hiếu thảo với cha mẹ sinh ra và duỡng dục làm sao có thể trở nên một tôi trung. Ý
tứ của cổ nhân thật là thấu đáo.
Hiểu tâm sự con, bà Chiêm động viên:
- Mẹ không được ăn học, con nhớ sach, hãy bảo cho mẹ nhớ.
- Mẹ ạ, mẹ biết không, câu dó ở sách Luận ngữ, vốn ban đầu là ghi chép câu nói của Đức thánh
Khổng Tử với các học trò. Sau, Đức thánh qua đời, các đệ tử của ngài chỉnh lý và Luận ngữ trở
thành trước tác kinh điển của Nho gia đời sau.
Chợt nhớ, đi sâu giảng giải sách Luận ngữ cho mẹ, chỉ làm mẹ rối trí và mất thời giờ của mẹ,
Văn An đi thẳng vào câu nói kinh điển:
- Mẹ ạ, câu con nói lúc nãy chính là câu chữ Nho: Trung thần tất xuất ư hiếu tử chi môn. Nghĩa là
hiếu là cái đức cao nhất mà vua, tôi, kẻ sĩ và thân dân đều phải đề cao và thi hành.
Bà Chiêm mừng rỡ, thâm tâm bà nghĩ, con bà có chí, có tâm, sau này, có nhắm mắt xuôi tay, bà
cũng vui lòng, vui dạ. Nghĩ thầm trong bụng thôi, bà đánh trống lảng:
- Kìa, nắng đã chiều gần khắp sân, mẹ còn đi làm cơm sáng cho mẹ con ta ăn.
Nhớ đến giờ này cho đàn gà ăn thêm, bà đứng ở hàng hiên, vãi ít thóc, miệng gọi: chích chích... bập... bập... Cả con trống, con mái cùng đàn gà con lục tục kéo về. Lấy mỏ quệt thóc lên
nền sân gạch, con mái vừa mổ thóc vừa chọn lựa, được hạt thóc mẩy thì cục - cục gọi con, gà
mẹ lại ra chỗ thóc khác.
Văn An, cũng ở hàng hiên, bên trong dại nứa, không chán mắt nhìn những chú gà con tranh
nhau ăn. Mỗi khi nghe tiếng cục - cục của gà bố hoặc gà mẹ, chúng ùa ra, xô đẩy nhau, non nớt,
mảnh khảnh, vui mắt làm sao!
Lúc ấy, một người đàn ông khăn xếp, áo the đã sờn, quần trắng đã ngả sang cháo lòng, từ cổng
bước vào sân, theo sau là một chú bé, tóc húi trọc, chỉ để hai trái đào.
Văn An hơi sửng sốt, nếu là người làng quê mẹ, thì anh đã biết. Được mời vào nhà, người đàn
ông, mựon cái đĩa cẩn thận xếp lá trầu, quả cau và gói chè. Hai tay chắp trước ngực một cách
trịnh trọng, trong khi chú bé vẫn chốn tay vịn mép tràng kỷ, ông lễ phép nói từng tiếng một:
- Thừa thầy, nghe nói thầy sắp mở tràng, tôi có cơi trầu, lòng thành xin thầy cho cháu thọ giáo.
Văn An, tai vẫn chăm chú nghe, mắt đưa ngang nhìn cậu bé chống tay, vịn tràng kỷ.
- Kìa con, khoanh tay vào chứ, người đàn ông nhạy bén bảo con. Cậu bé ngoan ngoãn làm theo,
đứng thẳng người trước thầy Văn An, hai tay khoanh trứoc ngực, đầu hơi cúi. Văn An nhìn cậu
bé:
- Con người ta, học chữ đã khó, nhưng cái khó hơn là phép tắc, chữ lễ, phải rèn luyện và thực
hiện suốt đời. Bởi vậy, ông cha ta mới có câu răn dạy học trò đến trường: tiên học lễ, hậu học
văn!
Nhìn người đàn ông, Văn An hỏi:
- Sao bác biết tôi sắp mở tràng?
- Tài học của thầy, đạo đức của thầy lừng danh khắp tổng ta, khắp huyện ta, ai cũng cầu mong
con cháu đuợc thọ giáo thầy mới yên tâm.
Văn An, cầm chén trà, mời ông ngồi, vui vẻ:
- Ông xấp giọng.
Rồi thủng thẳng:
- Việc mở tràng quả tôi cũng đang tính, phong tôi nơi ấy, tôi đã coi kỹ.
Người đàn ông như đoán được ý thầy:
- Dạ, tôi thấy phong thủy nơi thầy chọn đẹp lắm, làng trên, xóm dưới, ngay cả làng bên cạnh
đều khen thầy tinh đời chọn nơi dựng tràng đấy ạ.
Văn An vẫn bình thản và thủng thẳng nói:
- Tôi vẫn nhớ câu Đức thánh Khổng Phu Tử: Phong hồ Vũ vu, dục hồ Nghi, ý nói nơi dạy học của
Đức thánh phải là nơi: Hóng gió ở đàn Vũ vu, tắm ở sông Nghi. Cái đó là tính khoáng đạt của
Đức Thánh, coi nơi dạy học phải là nơi mở rộng tầm nhìn của các trò, để nghĩa chữ từ sách vở
Thánh hiền chắp cánh bay xa.
Mời khách cạn chén trà và tiếp thêm chén trà ngám, bốc khói, Văn An cũng rót chén trà cho
mình, xấp giọng rồi nói:
- Tôi đi tìm và cân nhắc mãi, nơi tràng sắp làm là ở cồn đất giáp hai làng. Nhà học, phía trước
giáp hồ, có cái tầm thú vị "phong dục vinh quy" như Đức thánh dạy. Tôi tin tưởng từ đất tràng,
chí nguyện học lễ trước mới học văn sách sau, các trò ắt thành đạt làm nên người xứng đáng.
Ông khách đứng dậy, xin phép cáo lui. Nhìn trò mới vẫn khoanh tay, đầu hơi cúi, Văn An lòng có
chút hồ hởi, bảo cậu bé sắp vào trường:
- Thầy cho phép con bỏ tay xuống ra về với cha, chờ làm xong tràng , khai giảng con đến, nhớ
câu: Tiên học lễ, hậu học văn đó!
Chờ hai cha con người xin học ra khỏi cổng, bà Chiêm qua đầu sân, từ bếp lên nhà. Có lẽ nghe
câu đuowjc câu chăng, bà Chiêm đoán được việc, hỏi ocn:
- Con định mở trang sao? Thi cử là cái thang để bước lên danh vọng, ý con khác sao?
Văn An ôn tồn:
- Bao giờ con cũng nghĩ mẹ quá vất vả vì con. Nhưng đạo học, dạy người ích lợi rộng rãi hơn cái
mũ cánh chuồn:
Văn An không ngờ mẹ lại nói:
- Mẹ có cái thiệt thòi là phận gái không được ăn học. Đến lúc lấy chồng gánh vác giang sơn nhà
chồng, lại không may ông ấy đi xa biền biệt. Mẹ tin tưởng cha con là người có học, ông ấy biết
cư xử làm gương cho con cái và giữ được phép nước. Con có chí hướng thế, mẹ chỉ mong con
kiên trì như con thường bảo mẹ: đạo hoclớn và sâu lắm, đỗ đạt làm quan ấy là sung sướng
riêng cho bản thân. Nhưng dạy người, người học tấn tới là đạo đức, điều ích lợi này quý bao
nhiêu cho đất nước!
Cặp mắt Văn An ánh lên tia sáng tự hào và cảm động, Văn An hơi luống cuống trong niềm vui
trong trẻo, sâu lắng:
- Mẹ... mẹ, con cám ơn và ghi nhớ lời mẹ!
2. Trường Huỳnh Cung - cái nôi dạy chữ và
dạy đạo làm người
Không khí học tập đời Trần khá sôi nổi. Dù so với bây giờ còn quá ít trường, nhưng đặt vào
bối cảnh đời Trần, thế kỷ 13, những trường do triều đình quản lý là: trường Từ Thiện đường,
Toát Trai đường, trường ở phủ Thiên TRường là quê hương nhà Trần, trường Quốc Tử giám,
những trường này dành riêng cho con em quý tộc. Các làng có điều kiện mở trường do thầy đồ,
thầy khóa, ông tú, ông cử làng dạy. Nếu khôgn có thầy dạy địa phương thì hào trưởng mời
người ở xa về dạy. Có thể người túng kiết ở xa tìm chỗ dạy trẻ nương thân.
Như vậy, việc học ở đất văn hiến như nước ta bao giờ cũng đuợc chú trọng, nhất là trường
Huỳnh Cung của Chu Văn An, thu hút học trò cả T hăng Long, Kinh Bắc, Sơn Nam v.v... không kể
con nhà khá giả ở nông thôn, mà những học trò có chí con nhà nghèo cũng được nhận học.
Ở trường Huỳnh Cung, dù số học trò đông nhưng Chu Văn An tổ chức quy cũ chặt chẽ. Toàn
trường có đồng môn. Hội đồng môn do thầy Chu Văn An chọn trong môn sinh, ai là người giỏi
giang có phẩm chất thì môn sinh suy tôn là Trưởng tràng đứng đầu coi sóc môn sinh. Lại thêm
Giám tràng để hiệp trợ cho Trưởng tràng. Lại nữa, ai là người mẫn cán, đặt ra năm , bảy hoặc
mười người làm Cán tràng, giúp Trưởng và Giám tràng lo công việc bên ngoài liên quan đến
việc học của môn sinh.
Tuy vậy, để tập trung hiệu lực vào thầy giáo, theo quy định chugn của quan hệ thầy trò, phải có
chữ ký của thầy, học trò mới phục tùng ý kiến của trường, giám trường.
Do lúc bấy giờ Chu Văn An đã uyên bác, tinh thông các sách đạo nho nên đủ sức dạy môn sinh
trường Huỳnh Cung học liền mười năm để nộp quỷển dự các kỳ thi hương, thi hội, thi đình, tức
tú tài, cử nhân, tiếc sĩ. Các môn si nh trong cuộc đời dạy học của thầy Chu sử sách còn ghi lại là:
Phạm Sư Mạnh và Lê Quát đỗ Thái học sinh đời Trần Anh Tông, sau làm quan to ở triều đình,
đến chức Hành khiển (tể tướng).
Theo cách học ngày ấy, với trò bảy, tám tuổi, thầy Chu cho học Tam Tự kinh, Tứ thư kinh... mỗi
ngày năm ba câu, tập viết vào ván gỗ. Độ vài tháng thì cho học sinh vài dòng chữ tập, viết tô.
Một năm trở lên đọc sách khác vừa sức, chuyên viết phóng và cho tập làm câu đối bốn chữ,
hạng học sinh này gọi là mộng học.
Hai năm sau viết thành chữ rồi, học đã biết suy nghĩ thì cho học đến Tứ thư, Ngũ kinh, sử Hán
Đường, cho tập làm câu đối phú. Dần dần cho tập làm bài doạn, bấy giờ gọi là ấu học. Năm ba
năm , trò nào có khiếu thông minh mới cho làm thơ, làm phú, làm kinh nghĩa, văn sách. Năm
sau nữa, cho học cổ văn, tính lý, chu lễ. Bấy giờ mới gọi là hạng trung tập.
Học trung tập đã khá thì lên trường đại tập. Học tràng đại tập, phần giảng thì ít, mà phần tập
làm văn chương thì nhiều. Tập ở đây giỏi mới cho đi thi.
Một tháng tập văn chương có 4 kỳ, học trò đem bài về nhà làm, năm sáu hôm thì đem nộp, gọi
là văn thường kỳ. Mỗi tháng có hai kỳ học trò phải tập trung một chỗ, vẫn ở nhà học Huỳnh
Cung, làm văn một ngày phải xong, gọi là văn nhật khắc, nộp để thầy Chu chấm quyển. Hễ bài
văn nào hay nhất, được phê ưu hạng, hay vừa, phê bình hạng, tầm thườn,g phê thứ hạng, kém
lắm thì phê liệt... Mỗi tháng vào ngày mồng một hay rằm, học trò tập trung ở nhà học Huỳnh
Cung nghe bình văn. Trò nào tốt giọng đựơc Thầy Chu cho ngâm cao tíêng lên để cho trò khác
đều nghe mà bắt cước.
Cứ đoạn văn dài, tùy theo mạch văn, thầy Chu hỏi qua trò xong, thầy bình mở rộng khắc sâu,
hoặc móc nối, ôn kiến thức cũ. Trò càng thấy vỡ ra cái đẹp cái hay của văn chương, càng thấy
kiến thức thầy súc tích, uyên thâm.
Dù dạy trò lớp mộng học, ấu học, hạng trung tập hay đại tập, cứ đến buổi dạy của thầy Chu, trò
nào cũng trật tự, nghiêm túc.
Từ khi nhận trò học Tam tự kinh đến đại tập và những kỳ bình văn, thầy Chu đều tuân thủ ý
người xưa: thầy không nghiêm, không dạy được trò, ngược, trò học không nghiêm, thì không
hiểu lời thầy giảng, vê nhà học không đào sâu, mở rộng được.
Hôm ấy, thầy Chu nói với trò dù đã lên trường đại tập:
- Cái nghiêm ta dạy các trò luôn có hai chiều, trò lễ hép, tuân thủ những yêu cầu của thầy dạy.
Dù trò nhỏ, thầy không bao giờ lấy roi vọt bắt trò nghiêm mà tự trò thấy cái hay, cái đẹp chữ
nghĩa thánh hiền để tự mình bắt mình nghiêm ở trường và ở nhà.
Học trò trường Huỳnh Cung im phăng phắc nghe thầy nói và dồn mắt nhìn thầy, mỗi người
mang một tâm trạng khác nhau. Ai đã từng thấm lời thầy thì thấm thêm, ai còn chưa đúng với
thầy thì tự lòng giật mình, vì đã phụ công thầy dạy bảo.
Thầy Văn An thâm tâm dường như đồng điệu với trò, tiếp tục nói:
- Trò nào nghiêm được trong học tập và vâng lời thầy ấy là cũng thực hiện mặt nào đó của chữ
hiếu. Không làm trái ý thầ ydạy theo lời lẽ sáchcủa thánh hiền, cũng là chuyên vào cái gốc Đạo
nho.
Thầy Văn an như cần nói thêm ý của mình:
- Chuyên làm được gốc Đạo nho chân chính sẽ không bao giờ gây những cuộc phản loạn. Và
trên trường chính trị, khôgn có loạn thần nghịch tử, thiên hạ sẽ tự nhiên thái bình. Nhưng đây
chỉ là một vế, ý thầy chỉ mới nói về trò học nghiêm.
Trong im lặng, những ánh mắt của trò không rời thầy, thầy lại giảng:
- Nói thày dạy nghiêm, tức là thầy dạy bài nào, thầy dạy hạng nào của trò, thầy phải thấu đáo
từng ý từn glời bài đó. Phải hiểu sự hấp thụ của trò. Không giảng quá cao hoặc quá thấp. Đó chỉ
là một mặt, nhưng cách ăn mặc, cử chỉ, lời nói của thầy phải nghiêm, tức là tuân thủ ý dạy của
Đức thánh, không khó tính, khắt khe những cũng không xuề xòa, vượt khỏi quy định của chữ lễ.
Trò vẫn lắng nghe. Văn An nhấn thêm:
- Cái nghiêm của thầy còn là sự tận tâm chấm bài, công bằng phê điểm. Lại còn cư xử của thầy
khi vắng trò và quan hệ gia đình, bè bạn, làng xóm bao giờ cũng đàng hoàng, chân thật. Người
xưa từng nói: thày nào, trò nấy, có nghĩa thầy là tấm gương sáng cho trò theo.
Cũng gần đúng ngọ, thày Văn An cho trò chuẩn bị tan học. TRưởng, giám và cán tràng như đã
bảo nhăn sẵn hội đồng môn đứng lên chào thầy và rời lớp. Thầy Văn An nhìn họ: đàn ong tỏa đi
khắp ngả, tiếgn vo vo cánh ong bay, như dội vào lòng thầy những tiếng nói rì rầm tin tưởng.
Lát sau, thầy nhìn lại sau lưng, chú bé đuợc cha dẫn đến nhà xin học ngày nào đang khoanh tay
lễ phép, cúi đẫu, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn thầy. Theo yêu cầu của cha chú bé ngày đầu
đứa con nhập trnàg, thầy đặt tên cho chú là Nguyễn Thanh, thay cho cái tên cha mẹ đặt là Văn
Út. Văn An biết cậu học trò có điều gì riêng tư muốn thưa, dịu dàng bảo:
- Trò có gì định nói?
- Dạ, bẩm thầy, Thanh lễ phép, tuy không khỏi ấp úng: năm nay trời làm hạn, nhà con thiếu
thóc ăn, thầy con bảo xin phép thầy cho con nghỉ học.
- Trò nói sao?
- Con xin thầy nghỉ học vì hoàn cảnh...
- Trò không biết, còn vài tháng nữa là con đã xong trung tập, mà xong trung tập, có rẽ ngang,
con cũng tạm đủ vốn liếng, có thể làm thầy đồ dạy trẻ ở làng ư?
- Thầy con và con cũng nghĩ thế, nhưng cảnh nhà con... Nhìn nét mặt trò, Văn An nhớ lại mấy
năm đèn sách ở nhà học Huỳnh Cung, Thanh sức học không nổi trội hẳn, nhưng lúc nào cũng
kính thầy nhường bạn. Thày gặng hỏi:
- Trò không gắng được sao?
- Bao giờ con cũng muốn đi học, học thầy chữ nào con cũng thấy sáng thêm và càng thấy lời
Đức thánh súc tích và bể học thật mênh mông.
Nghĩ ngợi một lát, Văn An ôn tồn bảo:
- Con về nhà nói với bố mẹ gắng cho con học vài tháng hết trung tập, con đi thi đỗ thì là cậu tú,
trượt cũng đuợc sinh đồ.
Thanh buồn rầu:
- Nhờ công ơn thầy dạy bảo, hoàn cảnh gia đình con biết làm sao?
- Thôi, ý thầy là giữ con học hết trung tập, hoàn cảnh con, thầy không con leo cây đã tới cành
cao, bỏ dở tiếc côgn đèn sách.
Trò vẫn lặn gim, thầy ân cần:
- Hoàn cảnh con thầy thưonưg lắm, chí tiến thủ của con, cũng rõ. Con về nhà xin phép cha mẹ,
từ ngày mai con sang ở với thầy, thầy nhờ hai bác chủ nhà nấu thêm cơm, và sẽ xin phép cho
con ngủ ở mé chái nhà con bỏ không.
Không ngờ toại nguyện, Thanh hớn hở chào thầy rồi xin phép về nhà ở xã bên cạnh.
Ăn xong bữa cơm trưa, Văn An khăn áo về Thanh Liệt thăm mẹ. Mở trườgn ở đây, lý do chính là
đắc địa phong thủy, nhưng còn chút u uẩn, đây là quê mẹ, Mẹ theo tập quán hương ẩm, sống
nkương náu ở quê ngoại, quê mẹ mình , chứ không phải quê người, khôgn có ràng buộc huyết
thống, vẫn chỉ đựoc coi là dân cư ngụ, thường bị rẻ rúng, không được dự hương ẩm làng trong
các kỳ hội hè, đình đám.
Làng mà Chu Văn An đặt trường Huỳnh Cung giáng với làng mẹ sinh ssống, Văn An thương mẹ,
nhưng vì trách nhiệm dạy học, nên phải rời xa không đuợc đêm ngày hầu hạ. Bởi vậy, dù còn
uẩn khúc tâmt tư. Văn An vẫn thường về thăm mẹ.
Văn An thủng thỉnh đi trên con đường liên xã, gói Đầm Mực vãn mát rượi vuốt ve thầy giáo,
dường như chia sẻ tâm tư, dường như thì thầm những lời ngọt lịm về đạo lý làm ngưoiừ động
viên thầy giáo Chu Văn. Từ phía bên kia đầm trên gò cao, ngôi trường Huynh fCung đơn sơ tre
nứa, nhưng vẫn có cái gì lồng lộng đẹp sáng tự hào.
Đã qua ngọ lâu rồi, nhưng nắng chiều còn gay gắt. Tìm bóng cây râm mát, lứa gà đa được thay
thế bao lần rồi đang cục cục gọi con. May mắn Chu Văn An duy trì đuợc trường Huỳnh Cung,
nên lứa gà cũ được giữ lại. Rồi gà mẹ lại đẻ gà con, đàn gà ngày một đông đúc. Văn An vui vui ,
lứa gà con, qua mấy đời gà được nở trứng, ấp con và nuôi nấng, lứa gà trước đây, vẫn còn nòi
giống duy trì. Con mái mẹ hiệnnay, xòe cánh ấp mát cho đàn con, nó bỡ ngỡ nhìn Văn An, thầy
giáo cũng hiểu, vì mình ít về nên chắc hẳn nó cảm thấy lạ. Văn An cười xòa, thầy giáo còn có
bao nhiêu gà con b iết nói đang khát khao học tập ở trường Huỳnh Cung mà thầy phải gắn bó
trách nhiệm để vun xới!
Nhìn con trai, chững chạc, với vẻ mặt mô phạm khả ái, bà Chiêm đon đả:
- Biết con hôm nay về, mẹ đã đốt trầu, vẫn dư niêu cá rô con, con t hích ăn với rau muống chấm
tương ngọt. Lại cả gạo tám xoan hơn đấu lãi của mẹ ở phiên chợ, mẹ chạy hàng sáo sáng nay.
Rau muống thả bè, mình dày nhưng chín mềm chấm với tương ngọt. Lại cả đĩa rô ron, mềm rục
và mùi thơm của gạot tám soan nghi ngút bốc lên từ bát cơm mẹ xới đầy. Văn An ăn hai bát,
lửng dạ, còn muốn ăn thêm. Nhưng, nghĩ lời Đứ cThánh dạy: ngưoiừ quân tử ăn khôgn cần no...
(quân tử thực vô cầu bão), dù mẹ ép xới nửa bát nữa nhưng Văn An đặt chiếc bát và đôi đũa
trên mâm, "vô phép" mẹ, rất từ rốn, lễ độ và cương quyết. Có lẽ, quyến luyến tình thầy trò ở
trường Huỳnh Cung, Văn An thấy chưa đủ, vì cái cần khác của con người, là tình mẫu tử gắn bó,
thiêng lieng. Mỗi lần về thăm mẹ, dù Văn An đã học cao và làm thầy giáo, cái không thể thiếu
với anh là hơi ấm của mẹ, anh cảm thấy mình giống như chú gà con lúc nào cũng thích rúc vào
cánh gà mẹ ở ngoài sân.
3. Những tấm lòng của người dạy học có
tâm huyết
Nếu ngày nay, có ai đó vì người dạy học, trong từng năm, như người lái đò chở khách qua
sống, thì có lẽ ngày xưa, không có sự ví von hình ảnh đáng buồn này. Bởi vì, trật tự xếp hạng
người xưa "quân, sư, phụ", nghĩa là thầy giáo được xếp dưới vua và trên cả người cha. Hơn nữa,
lại có câu: "một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy", đủ biết vị trí người dạy học được coi
trọng biết chừng nào.
Đặc biệt, với thầy Chu Văn ở trường Huỳnh Cung, trình độ dạy học và đức độ thầy, ngưoiừ xưa
thường ví như sao Bắc Đẩu , như sao Khuê, uy tín, tiếm thơn lan truyền nhiều địa phương, kể
cả Thăng Long và những vùng xa khác.
Và, uy tín của thầy đến nỗi ở trường Huỳnh Cung lan truyền một chuyện có tính chất huyền
thoại như sau: Năm ấy, trời làm hạn hán, đúng thời điểm lúa con gái đang cần nước. Nhiều nơi
lập đàn cầu đảo nhưng trời vẫn nắng chang chang. Trong số học trò theo học có một ngưoiừ
hành tung thật lạ lùng, cứ đến lúc thầy sắp giảng bài, thì cậu mới tới và ngồi phía giới. Thầy
Chu đã để ý quan sát nhiều buổi và cảm thấy ngồi ngộ. Một lần tan lớn, trò được gọi đến, thầy
nói:
- Anh có biết, dạo này khô hạn, dân tình nháo nhác chờ mưa và lo đói. Anh có cách gì giúp dân?
Ngưoiừ học trò đó ngạc nhiên nhìn thầy. Biết thầy đã rõ mọi chuyện, cậu lễ phép thưa:
- Thầy bảo, con xin cố.
Đoạn, anh ta nhúng bút vào nghiên mực, vẩy lên bốn phía. Như có phép lạ, trời tối sầm lại, sấm
chớp đùng đùng và mưa như trút khắp vùng trương đóng và những vùng khác nữa. Dân tình, ai
cũng mở cửa trong bụng. Ruộng thấp, ruộng cao, đều no nước, lá lúa tốt xanh mơn mởn.
Buổi học hôm sau, vắng anh học sinh ấy. Lại thấy, ở Đầm Mực có xác con thuồng luồng lềnh
bềnh nổi. Thì ra đó là con vua Thủy Tề nghe tiếng dạy học của thầy Chu Văn nên đội lố tngưoiừ
đến học, nhưng vì tự ý làm mưa trái ý của vua Thủy Tề, nên bị vua trị tội.
Thầy Chu Văn cùng dân làng cho chôn xác con thuồng luồng tử tế. Sau đó lập đề thờ, nhớ ơn
ngưoiừ học trò biết thương dân, hy sinh tính mạng đáng quý.
Dù truyện ấy là huyền thoại, nhưng vẫn còn cái lõi hiện thực, là tiếng thơm của Thầy Chu đồn
xa, động đến cả cung vua Thủy Tề, khiến con trai vua cũng phải đội lốt người theo học. Mặt
khác, chứng tỏ việc dạy và học ở trường Huỳnh Cung, thầy trò vẫn không xa rời dân và luôn gắn
bó với sản xuất.
Lịch sử nước ta, thời thịnh Trần gắn liền với chiến công vang dội ngàn thu của Trần Hưng Đạo
ba lần chiến thắng Nguyên - Mông.
Nhưng hào khí Đông A chỉ vang vọng ít đời sau Hưng ĐẠo Vương, vì đất nước không còn chiến
tranh, đi vào hàn gắn vét thương chiến tranh và lo toan sản xuất để làm nước mạnh, dân giàu.
Tiếc rằng, thanh bình và quyền lực kích thích không ít dục vọng cá nhân của vua, quan cầm
quyền. Máu quỳên lực làm cho từ vua đến quan mờ tối. Đời sống người dân lương thịên,
ngưoiừ dân mà thời kháng chiến chống Nguyên - Mông không hề tiếc tính mạng, sức lực, tiền
của, theo vua, để làm cho kháng chiến thắng lợi, mỗi ngày một điêu đứng.
Đời Trần Anh Tông (1293 - 1314), bắt đầu có tín hiệu lung lay ở ý thức tư tưởng xã hội. Đã xa
rồi cái thời cao tăng đựoc mời vào đóng góp nhiếp chính. Lại càng xa rồi, tình cảm phơi phới
của nhà sư Lý Mãn Giác, tuy tu Thiền những vẫn còn rung động, khi nhìn cánh mai xuân hé nở
vào sáng sớm tinh mơ.
Thi cử là b iện pháp hữu hiệu tuyển chọn nhân tài, là thước đo trình độ dân trí đất nước, nhất là
dịp tìm kiếm hiền tài. Nội dung chương trình học, nội dung thi, cũng phản ánh yêu cầu chính
trị xxa hội, thái độ chính trị của triều đình. Và, khoa thi Giáp thìn (1304) Trần Anh Tông đột
ngột gạt bỏ kinh điển Phật giáo ra khỏi khoa thi.
Tất nhiên, sự gạt bỏ này làm cho không ít thầy trò "lỡ đà" trong bước quá độ. Mặt khác cũng
không tránh được sự khôgn chín chắn, theo thời khi đánh giá về Phật giáo.
Lê Quát, học trò Chu Văn An, cũng rơi vào trường hợp này. Bài Phật khá gay gắt, Lê Quát viết:
"...Ngày nay, coi việc làm chùa, xây tháp thì hớn hở, như nắm chắc thiện báo sẽ được hưởng
phúc về sau. Dù dân còn túng thiếu, nhưng làm chùa, sửa chùa, ai cũng quá sùng tín bỏ việc sản
xuất đi làm chùa!"
Nhận định của Lê Quát gây phản ứng không ít tro...
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Kể chuyện nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An
(Đinh Mạnh Thoại)
Mục lục :
Lời nói đầu
1. Thiếu thời - quá khứ còn mờ ảo
2. Trường Huỳnh Cung - cái nôi dạy chữ và dạy đạo làm người
3. Những tấm lòng của người dạy học có tâm huyết
4. Tiếp xúc triều đình và những nhức nhối ban đầu trong lòng Chu Văn An
5. Gần Hoàng Thượng Minh Tông Và Được Giao Phó Việc Dạy Thái Tử
6. Cái tâm kẻ sĩ dạy học và môi trường quá phức tạp
7. Nỗi khổ còn gánh chịu của Chu Văn An ở triều đình
8. "Thất trảm sớ" và những lời bàn bạc thế kỷ sau
9. Lại bước ngoặt đời Chu Văn An - vẫn tiếp tục dạy học ở núi xanh Chí Linh
10. Chu Văn An - tình thơ - tình người
11. Chu Văn An - Mãi mãi, ở ông, tồn tại sao Bắc Đẩu và mãi mãi ngời sáng sao Khuê
Lời nói đầu
Có lẽ, trong sự nghiệp "trồng người", nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An là hãn hữu, có thẻ nói số
một, từ trước đến nay.
Không phải, vì ông có tuổi nghề 40 năm.
Cũng chưa phải, vì ông là Tư nghiệp Quốc Tử giám, trường Đại học đầu tiên ở nước ta.
Cũng chưa đúng, trong hàng nghìn học trò ông dạy, đa phần trưởng thành, có người làm Tể
tướng. Hoặc có cả học trò huyền thoại, con vua Thủy tề cũng đến học, do tiếng tốt của trường
Huỳnh Cung ông dạy, vang xa đến tận Long cung.
Trong chế độ phong kiến, cuộc đời ông không khỏi thăng trầm, nhưng nghề dạy học, đã có lý
tưởng và lẽ sốgn của ông, nên dù hoàn cảnh nào, ông cũng không bỏ dạy học.
Đỗ đạt cao - tương truyền ông đỗ Thái học sinh - nhưng, đêm này sang đêm khác, ông chong
đèn đọc sách, định ra bài giảng, nghiền ngẫm ý tứ giảng cho từng đối tượng học trò. Sáng sáng,
dù là ông giáo làng ở trường Huỳnh Cung, là Tư nghiệp ở Quốc Tử giám, hay là Tiều Ẩn (người
tiều phu ở ẩn) ở vùng núi Chí Linh, ông đều cần mẫn giảng bài.
Hình như trong mỗi bài giảng, ông như con tằm nhả tơ, tơ phải vàng óng, để dệt cho học trò
những "tấm áo" kiến thức, tâm hồn thật đẹp mà chỉ học thầy Chu, học trò mới được diễm phúc
ấy.
Sách ông dạy học trò, đều là sách kinh điển của Nho giáo, theo chương trình mộng học (vỡ
lòng), ấu học (tạm so sánh tiểu học), trung tập (trung học), đại tập (đại học). Nhưng hơn ai hết,
Chu Văn An thấy nghề dạy học rất khó, hiệiu quả từng bài giảng gần như trừu tượng và vô hình,
len lỏi trong tâm khỏi học sinh, như giọt mật li ti nhỏ, được vắt khéo từ nhụy hoa, của người
thầy phải chắt lọc kiến thức và nhào nặn bằng tấm lòng của mình và phải từ sâu thẳm trái tim
mình để truyền đến từng học trò. Một thầy giáo như Chu Văn An, không bao giờ tự cho bài
giảng của mình là đã đủ, đã hay. Vì thế ông không ngừng học tập, đọc sách và nghiền ngẫm
thêm nghĩa lý của sach cho bài giảng ngày càng rộng mở.
Bởi vì, từng chữ, từng ý, nhất là chữ, ý ấy, lạ kinh điển, nghĩa là sàng lọc qua bao thời gian vẫn
óng ánh sức sống, nên thầy Chu chuẩn bị giảng bài, đâu đơn giản như cái máy nói?
Vẫn ý tưởng thuộc lòng ấy của câu nào đó trong Thánh Kinh, nhưng lòng người dạy có rộng mở,
mê si với nghề, mới có khám phá, khám phá hơn cả người được trang bị hiện đại lặn sâu dứoi
đáy biển, kỳ thú trước thiên nhiên mới mẻ, nhìn chỗ nào cũng đẹp. Nhưng chữ nghĩa bài giảng,
đâu nhìn bằng mắt mà khám phá được chiều sâu của nó?
Người viết ra chữ nghĩa kinh điển ấy, đã từng bao năm tích lũy kinh nghiệm đời và kiến thức,
lại đã từng cân nhắc, rung động thế nào, mới mày mò được cái thần con chữ.
Người dạy như thầy Chu, đâu phải thuộc lòng để dạy trơn tru? Có tìm được ngọc quí nơi con
chữ, lại không phải mắc bệnh "thị trường": có ngọc, thì bán đi. Ngược lại, thầy Chu tâm niệm
nghiêm túc "bán" thế nào và "bán" cho ai? Nghĩa là, bài giảng của thầy Chu nồng đượm tình ý
người xưa, đẻ chuyển nó thành chất dinh dưỡng, học trò thấy bổ ích, hấp thụ với tất cả sự tin
tưởng, kính yêu thầy giáo.
Sinh năm 1292 và mất năm 1370, Chu Văn An, tuổi thiếu thời và lớn lên di học, được may mắn
sống trong hào khí Đông A, nhà Trần ba lần chiến thắng Nguyên - Mông. Ông không đi lối mòn
làm quan, lấy cứu cánh là vinh thân phì gia.
Người con trai, người thầy giáo gần kinh đô có "hoài bão" trồng người, "lấy trồng người" là lẽ
sống cao đẹp để theo đuổi, suốt cả cuộc đời.
Bởi thế, mở trường tư Huỳnh Cung tại quê nhà và gần kinh đô, ông giảng dạy tận tình và lôi
cuốn. Rồi, tiếng lành đồn xa, ông được vời vào kinh làm Tư nghiệp Quốc tử giám dạy hai đời
vua, Hiểu Tông và Dụ Tông.
Nhưng đời Hiểu Tông, rồi sau là Dụ Tông, là lúc triều Trần suy vi, tất nhiên cỏ dại, sâu đục lá đã
dần phá tan cơ nghiệp đời Trần. Những con sâu đục lá ấy, là lớp gian thần, bằn gmọi thủ đọan
tinh vi, dẫn dắt hai vua tha hóa, biến chất đến kinh khủng.
Đời Dụ Tông, cực chẳng đã, ông dâng sớ "Thất trảm", hì cũng là lúc ông tíep theo sự khẳng khái,
treo áo từ quan về ở ẩn mở trường dạy học và ngao du sơn thủy. Khi ấy, tuổi đã cao, nhưng vốn
là họa mi, sao ôgn tự cấm mình không được hót? Nghĩa là, "trồng người" đã cấu thành máu
thịt, thành hơi thở của ông, sao lại dừng được? Dừng, có nghĩa là đang sống trên cõi đời này mà
như đã chết rồi sao?
Không, Chu Văn An đi giày cỏ nhưng ông vẫn lại tiếp tục dạy học ở Chí Linh, lấy dạy học làm
nguồn vui.
Ngoài dạy học ra, Chu Văn An còn làm thơ, còn trước tác. Dù văn kiện "Thất trảm sớ" , không
dày về số trang, nhưng lại rất dày về tâm huyết. Khí phách ông, danh sĩ, danh nho đời đời sau
đều đánh giá là "động trời"! Tứ thư thuyết ước, khá cnào sự tinh luyện tài tình của bộ óc uyên
thâm và trái tim nồng hậu cống hiến cho sự nghiệp "trồng người"? Quốc ngữ thi tập, Y học yếu
giải, những tác phẩm giá trị vô song ấy, nhất là Thất trảm sớ, đã bị quân Minh vơ vét sạch đem
về nước cùng bao sách quý của ta. Nhưng người xưa đánh giá không ngoa: Chu Văn An là sao
Bắc Đẩu, là sao Khuê vẫn mãi chiếu sáng.
Với cuốn "Kể chuyển nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An", tác giả, cũng là nhà giáo trọn đời dạy học,
tự mạo muội và bạo tay hư cấu, trên cơ sở tư liệu xác thực đã có về Chu Văn An. Tác giả xác
định tự có tội với Chu Văn An, nếu lực không chiều theo cái tâm của mình. Đồng thời, cũng
không tránh được khiếm khuýêt với độc giả đáng quý khi đọc sách này. Xin thành tâm cáo lỗi
và mong các vị chỉ bảo thêm.
Đinh Mạnh Thoại
1. Thiếu thời - quá khứ còn mờ ảo
Hôm ấy, ngồi đọc Kinh Sử, từ sáng sớm cho đến khi ánh nắng chỉ còn thấp thoáng ngoài dại
nứa hiên nhà, tự nhiên chàng trẻ tuổi Chu Văn An thấy thấm mệt hơn mọi ngày.
Qua kẽ hở của dại nứa, một con gà mái, vuốt chân cần mẫn bới cỏ, chốc chốc lại cục cục gọi đàn
gà con, lông tơ vàng mịn, mỏ kêu chiếp chiếp, chạy theo đúng chỗ gà mẹ vừa vạch cỏ giữ mồi.
Phía xa, cạnh bờ rào dâm bụt, con trống sục vào sát rễ dâm bụt, cũng cục cục mấy tiếng. Vài
chú gà con lớn hơn, nhanh chân chạy lại chỗ gà bố, tranh nhau mấy con sâu đang ngoe ngoảy
chạy trốn, nhưng vô ích.
Ý tứ trang sach Kinh Sử len lỏi trong đại não, mà chưa bừng sáng, chưa khám phá được chìeu
sâu chữ nghĩa, Văn An như phân tán tư tưởng khi nhìn đàn gà, cảnh gà bố gà mẹ cả ngày quanh
quẩn tìm mồi ít ỏi để nuôi con.
Lúc ấy, bà Lê Thị Chiêm, về chợ và vào đến cổng, đầu đội thúng gạo, tay cắp bó bã mía. Hình
ảnh này, quá quen thuộcvới Chu Văn An. Chàng thừa hiểu ràng, sáng tinh mơ mẹ đi chợ, cái
thúng úp trên vai, trong thúng lục cục chỉ có cái đấu mang theo. Có gì đâu, những ngày nông
nhàn, mẹ chạy chợ kiếm thêm.
Vốn liếng chẳng có, nhưng nhờ xốc nổi tháo vát, phiên chợ nào cũng vậy, bà đến chỗ người ta
lấy thóc nhà ra xay, giã thành gạo bán để mua chịu. Bà Chiêm vục đấu vào đong, đinh giá và
sang thúng. Rồi bà nhanh chân, đội thúng gạo ra một phía khác dãy hàng gạo, chờ khách. tính
mau mắn, cứ lãi chút ít, bà lại sang thúng bán cho n gười đến chợ chậm hơn. Còn bã mía, bà
nhặt ở chợ, bó lại về phơi, tiết kiệm rơm.
Như đã quen biết và thành lệ tin cậy, dù bà chưa có tiền trả người ta vẫn bán gạo trước cho bà,
vì họ dư giả hơn, tranh thủ mua sắm, đến khi họ xong việc thì cũng vưa hay bà gặp họ, trả tiền
sòng phẳng. Hình như bà Chiêm có duyên bán hàng, nên mỗi phiên chợ, bà cứ vòng quay động
tác ấy, chỉ vài lần, đã thúng rỗng mang về. Khác buổi tinh mơ, đi chợ về là có đấu gạo, sóc cua
và mớ cá vụn, nhưng còn tươi, đủ hai bữa thức ăn cho mẹ con.
Bà Chiêm đã vào đến sân, Văn An cũng vừa đến chỗ mẹ.
- Mẹ để con đỡ thúng xuống cho nào.
- Dào ơi, thời buổi làm ăn, ngưoiừ khôn của khó, có lẽ mẹ sẽ làm hàng sáo, chịu khó kiếm bữa
cho mẹ con ta, mẹ làm được mà!
Cả gà trống, gà mái mẹ, dẫn đàn gà con đi xa hơn, ra phía cổng đầu ngõ, trông vui mắt và hạnh
phúc. Trở lại với cảnh đời thường, Văn An rộn lên nỗi thương mẹ và không dấu diếm xúc cảm:
- Mẹ, mẹ quá vất vẻ vì con!
- Dào ơn, con cứ hay nói thế, hoàn cảnh mẹ con ta, mỗi người gắng mỗi việc. Rồi bà âu yếm: mẹ
hết lòng nuôi con thành người, còn con hết lòng vào dùi mài kinh sử, đời con được rạng rỡ, mẹ
cũng được thơm lây!
- Mẹ, con vẫn thường ghi nhớ lời mẹ dạy, mẹ hãy tin tưởng ở con.
Bà Chiêm như đựoc động viên, nói:
- Khi dạy con, cha con thường chú ý đến đạo học và đạo hiếu...
Bà ngừng nói, nét mặt vương vất trầm tư. Biết cha vắng nhà từ lâu không về, khôgn biết biết vì
công việc hoặc gặp rủi ro gì, mẹ nén buồn và dốc vào nuôi mình ăn học. Văn An cả ngày chăm
chỉ dùi mài kinh sử.
Hơn lúc nào hết, Văn An thấm thía, anh cởi mở với mẹ:
- Cha con vắng nhà, nhưng con luôn nhờ đến đạo hiếu cha con dặn, mà mẹ cũng vừa nêu.
Những năm tháng làm bạn với chồng, bà cũng thường được nghe chồng nói với Văn An. Dù bà
không biết chữ, nhưng tấm lòng người vợ đối với chồng, tấm lòng người mẹ đối với con, từ cõi
lòng chân thành, trong sáng của mình, bà cũng thường nói được những lời hay lẽ phải với con,
không trái ngược với đạo thánh hiền mà con bà vẫn đọc. Và hôm nay, chạy chợ may mắn kiếm
được hơn đấu gạo, gnhe Văn An nhắc đến đạo hiếu, bà như tự dốc lòng bà ra, phụ họa với con
để giữa mẹ con, có sự hiểu nhau hơn.
- Chắc concòn nhớ, khi dạy con đạo hiếu, cha con thường nói: "Làm người, chữ hiếu là cái gốc
của tất cả đức hạnh, hiếu thảo với cha mẹ và tôn kính anh em, là thuận với đạo đức.
- Con luôn ghi nhớ điều đó: Người xưa nói, lấy hiếu thảo để cai trị thiên hạ, như vậy từ các vị
hoàng đé và các quan trong triều đến các chức sắc ở huyện, xã, hương đều phải coi trọng đạo
hiếu.
Ánh mắt bà Chiêm như sáng lên, Văn An phấn khởi cởi mở, coi đó là niềm vui và sự cảm giữa
mẹ con của một nhà có gia pháp.
- Mẹ ạ, sách xưa còn dạy: bậc trung thần xuất phát từ con người có hiếu, một con ngưoiừ trong
nhà không hiếu thảo với cha mẹ sinh ra và duỡng dục làm sao có thể trở nên một tôi trung. Ý
tứ của cổ nhân thật là thấu đáo.
Hiểu tâm sự con, bà Chiêm động viên:
- Mẹ không được ăn học, con nhớ sach, hãy bảo cho mẹ nhớ.
- Mẹ ạ, mẹ biết không, câu dó ở sách Luận ngữ, vốn ban đầu là ghi chép câu nói của Đức thánh
Khổng Tử với các học trò. Sau, Đức thánh qua đời, các đệ tử của ngài chỉnh lý và Luận ngữ trở
thành trước tác kinh điển của Nho gia đời sau.
Chợt nhớ, đi sâu giảng giải sách Luận ngữ cho mẹ, chỉ làm mẹ rối trí và mất thời giờ của mẹ,
Văn An đi thẳng vào câu nói kinh điển:
- Mẹ ạ, câu con nói lúc nãy chính là câu chữ Nho: Trung thần tất xuất ư hiếu tử chi môn. Nghĩa là
hiếu là cái đức cao nhất mà vua, tôi, kẻ sĩ và thân dân đều phải đề cao và thi hành.
Bà Chiêm mừng rỡ, thâm tâm bà nghĩ, con bà có chí, có tâm, sau này, có nhắm mắt xuôi tay, bà
cũng vui lòng, vui dạ. Nghĩ thầm trong bụng thôi, bà đánh trống lảng:
- Kìa, nắng đã chiều gần khắp sân, mẹ còn đi làm cơm sáng cho mẹ con ta ăn.
Nhớ đến giờ này cho đàn gà ăn thêm, bà đứng ở hàng hiên, vãi ít thóc, miệng gọi: chích chích... bập... bập... Cả con trống, con mái cùng đàn gà con lục tục kéo về. Lấy mỏ quệt thóc lên
nền sân gạch, con mái vừa mổ thóc vừa chọn lựa, được hạt thóc mẩy thì cục - cục gọi con, gà
mẹ lại ra chỗ thóc khác.
Văn An, cũng ở hàng hiên, bên trong dại nứa, không chán mắt nhìn những chú gà con tranh
nhau ăn. Mỗi khi nghe tiếng cục - cục của gà bố hoặc gà mẹ, chúng ùa ra, xô đẩy nhau, non nớt,
mảnh khảnh, vui mắt làm sao!
Lúc ấy, một người đàn ông khăn xếp, áo the đã sờn, quần trắng đã ngả sang cháo lòng, từ cổng
bước vào sân, theo sau là một chú bé, tóc húi trọc, chỉ để hai trái đào.
Văn An hơi sửng sốt, nếu là người làng quê mẹ, thì anh đã biết. Được mời vào nhà, người đàn
ông, mựon cái đĩa cẩn thận xếp lá trầu, quả cau và gói chè. Hai tay chắp trước ngực một cách
trịnh trọng, trong khi chú bé vẫn chốn tay vịn mép tràng kỷ, ông lễ phép nói từng tiếng một:
- Thừa thầy, nghe nói thầy sắp mở tràng, tôi có cơi trầu, lòng thành xin thầy cho cháu thọ giáo.
Văn An, tai vẫn chăm chú nghe, mắt đưa ngang nhìn cậu bé chống tay, vịn tràng kỷ.
- Kìa con, khoanh tay vào chứ, người đàn ông nhạy bén bảo con. Cậu bé ngoan ngoãn làm theo,
đứng thẳng người trước thầy Văn An, hai tay khoanh trứoc ngực, đầu hơi cúi. Văn An nhìn cậu
bé:
- Con người ta, học chữ đã khó, nhưng cái khó hơn là phép tắc, chữ lễ, phải rèn luyện và thực
hiện suốt đời. Bởi vậy, ông cha ta mới có câu răn dạy học trò đến trường: tiên học lễ, hậu học
văn!
Nhìn người đàn ông, Văn An hỏi:
- Sao bác biết tôi sắp mở tràng?
- Tài học của thầy, đạo đức của thầy lừng danh khắp tổng ta, khắp huyện ta, ai cũng cầu mong
con cháu đuợc thọ giáo thầy mới yên tâm.
Văn An, cầm chén trà, mời ông ngồi, vui vẻ:
- Ông xấp giọng.
Rồi thủng thẳng:
- Việc mở tràng quả tôi cũng đang tính, phong tôi nơi ấy, tôi đã coi kỹ.
Người đàn ông như đoán được ý thầy:
- Dạ, tôi thấy phong thủy nơi thầy chọn đẹp lắm, làng trên, xóm dưới, ngay cả làng bên cạnh
đều khen thầy tinh đời chọn nơi dựng tràng đấy ạ.
Văn An vẫn bình thản và thủng thẳng nói:
- Tôi vẫn nhớ câu Đức thánh Khổng Phu Tử: Phong hồ Vũ vu, dục hồ Nghi, ý nói nơi dạy học của
Đức thánh phải là nơi: Hóng gió ở đàn Vũ vu, tắm ở sông Nghi. Cái đó là tính khoáng đạt của
Đức Thánh, coi nơi dạy học phải là nơi mở rộng tầm nhìn của các trò, để nghĩa chữ từ sách vở
Thánh hiền chắp cánh bay xa.
Mời khách cạn chén trà và tiếp thêm chén trà ngám, bốc khói, Văn An cũng rót chén trà cho
mình, xấp giọng rồi nói:
- Tôi đi tìm và cân nhắc mãi, nơi tràng sắp làm là ở cồn đất giáp hai làng. Nhà học, phía trước
giáp hồ, có cái tầm thú vị "phong dục vinh quy" như Đức thánh dạy. Tôi tin tưởng từ đất tràng,
chí nguyện học lễ trước mới học văn sách sau, các trò ắt thành đạt làm nên người xứng đáng.
Ông khách đứng dậy, xin phép cáo lui. Nhìn trò mới vẫn khoanh tay, đầu hơi cúi, Văn An lòng có
chút hồ hởi, bảo cậu bé sắp vào trường:
- Thầy cho phép con bỏ tay xuống ra về với cha, chờ làm xong tràng , khai giảng con đến, nhớ
câu: Tiên học lễ, hậu học văn đó!
Chờ hai cha con người xin học ra khỏi cổng, bà Chiêm qua đầu sân, từ bếp lên nhà. Có lẽ nghe
câu đuowjc câu chăng, bà Chiêm đoán được việc, hỏi ocn:
- Con định mở trang sao? Thi cử là cái thang để bước lên danh vọng, ý con khác sao?
Văn An ôn tồn:
- Bao giờ con cũng nghĩ mẹ quá vất vả vì con. Nhưng đạo học, dạy người ích lợi rộng rãi hơn cái
mũ cánh chuồn:
Văn An không ngờ mẹ lại nói:
- Mẹ có cái thiệt thòi là phận gái không được ăn học. Đến lúc lấy chồng gánh vác giang sơn nhà
chồng, lại không may ông ấy đi xa biền biệt. Mẹ tin tưởng cha con là người có học, ông ấy biết
cư xử làm gương cho con cái và giữ được phép nước. Con có chí hướng thế, mẹ chỉ mong con
kiên trì như con thường bảo mẹ: đạo hoclớn và sâu lắm, đỗ đạt làm quan ấy là sung sướng
riêng cho bản thân. Nhưng dạy người, người học tấn tới là đạo đức, điều ích lợi này quý bao
nhiêu cho đất nước!
Cặp mắt Văn An ánh lên tia sáng tự hào và cảm động, Văn An hơi luống cuống trong niềm vui
trong trẻo, sâu lắng:
- Mẹ... mẹ, con cám ơn và ghi nhớ lời mẹ!
2. Trường Huỳnh Cung - cái nôi dạy chữ và
dạy đạo làm người
Không khí học tập đời Trần khá sôi nổi. Dù so với bây giờ còn quá ít trường, nhưng đặt vào
bối cảnh đời Trần, thế kỷ 13, những trường do triều đình quản lý là: trường Từ Thiện đường,
Toát Trai đường, trường ở phủ Thiên TRường là quê hương nhà Trần, trường Quốc Tử giám,
những trường này dành riêng cho con em quý tộc. Các làng có điều kiện mở trường do thầy đồ,
thầy khóa, ông tú, ông cử làng dạy. Nếu khôgn có thầy dạy địa phương thì hào trưởng mời
người ở xa về dạy. Có thể người túng kiết ở xa tìm chỗ dạy trẻ nương thân.
Như vậy, việc học ở đất văn hiến như nước ta bao giờ cũng đuợc chú trọng, nhất là trường
Huỳnh Cung của Chu Văn An, thu hút học trò cả T hăng Long, Kinh Bắc, Sơn Nam v.v... không kể
con nhà khá giả ở nông thôn, mà những học trò có chí con nhà nghèo cũng được nhận học.
Ở trường Huỳnh Cung, dù số học trò đông nhưng Chu Văn An tổ chức quy cũ chặt chẽ. Toàn
trường có đồng môn. Hội đồng môn do thầy Chu Văn An chọn trong môn sinh, ai là người giỏi
giang có phẩm chất thì môn sinh suy tôn là Trưởng tràng đứng đầu coi sóc môn sinh. Lại thêm
Giám tràng để hiệp trợ cho Trưởng tràng. Lại nữa, ai là người mẫn cán, đặt ra năm , bảy hoặc
mười người làm Cán tràng, giúp Trưởng và Giám tràng lo công việc bên ngoài liên quan đến
việc học của môn sinh.
Tuy vậy, để tập trung hiệu lực vào thầy giáo, theo quy định chugn của quan hệ thầy trò, phải có
chữ ký của thầy, học trò mới phục tùng ý kiến của trường, giám trường.
Do lúc bấy giờ Chu Văn An đã uyên bác, tinh thông các sách đạo nho nên đủ sức dạy môn sinh
trường Huỳnh Cung học liền mười năm để nộp quỷển dự các kỳ thi hương, thi hội, thi đình, tức
tú tài, cử nhân, tiếc sĩ. Các môn si nh trong cuộc đời dạy học của thầy Chu sử sách còn ghi lại là:
Phạm Sư Mạnh và Lê Quát đỗ Thái học sinh đời Trần Anh Tông, sau làm quan to ở triều đình,
đến chức Hành khiển (tể tướng).
Theo cách học ngày ấy, với trò bảy, tám tuổi, thầy Chu cho học Tam Tự kinh, Tứ thư kinh... mỗi
ngày năm ba câu, tập viết vào ván gỗ. Độ vài tháng thì cho học sinh vài dòng chữ tập, viết tô.
Một năm trở lên đọc sách khác vừa sức, chuyên viết phóng và cho tập làm câu đối bốn chữ,
hạng học sinh này gọi là mộng học.
Hai năm sau viết thành chữ rồi, học đã biết suy nghĩ thì cho học đến Tứ thư, Ngũ kinh, sử Hán
Đường, cho tập làm câu đối phú. Dần dần cho tập làm bài doạn, bấy giờ gọi là ấu học. Năm ba
năm , trò nào có khiếu thông minh mới cho làm thơ, làm phú, làm kinh nghĩa, văn sách. Năm
sau nữa, cho học cổ văn, tính lý, chu lễ. Bấy giờ mới gọi là hạng trung tập.
Học trung tập đã khá thì lên trường đại tập. Học tràng đại tập, phần giảng thì ít, mà phần tập
làm văn chương thì nhiều. Tập ở đây giỏi mới cho đi thi.
Một tháng tập văn chương có 4 kỳ, học trò đem bài về nhà làm, năm sáu hôm thì đem nộp, gọi
là văn thường kỳ. Mỗi tháng có hai kỳ học trò phải tập trung một chỗ, vẫn ở nhà học Huỳnh
Cung, làm văn một ngày phải xong, gọi là văn nhật khắc, nộp để thầy Chu chấm quyển. Hễ bài
văn nào hay nhất, được phê ưu hạng, hay vừa, phê bình hạng, tầm thườn,g phê thứ hạng, kém
lắm thì phê liệt... Mỗi tháng vào ngày mồng một hay rằm, học trò tập trung ở nhà học Huỳnh
Cung nghe bình văn. Trò nào tốt giọng đựơc Thầy Chu cho ngâm cao tíêng lên để cho trò khác
đều nghe mà bắt cước.
Cứ đoạn văn dài, tùy theo mạch văn, thầy Chu hỏi qua trò xong, thầy bình mở rộng khắc sâu,
hoặc móc nối, ôn kiến thức cũ. Trò càng thấy vỡ ra cái đẹp cái hay của văn chương, càng thấy
kiến thức thầy súc tích, uyên thâm.
Dù dạy trò lớp mộng học, ấu học, hạng trung tập hay đại tập, cứ đến buổi dạy của thầy Chu, trò
nào cũng trật tự, nghiêm túc.
Từ khi nhận trò học Tam tự kinh đến đại tập và những kỳ bình văn, thầy Chu đều tuân thủ ý
người xưa: thầy không nghiêm, không dạy được trò, ngược, trò học không nghiêm, thì không
hiểu lời thầy giảng, vê nhà học không đào sâu, mở rộng được.
Hôm ấy, thầy Chu nói với trò dù đã lên trường đại tập:
- Cái nghiêm ta dạy các trò luôn có hai chiều, trò lễ hép, tuân thủ những yêu cầu của thầy dạy.
Dù trò nhỏ, thầy không bao giờ lấy roi vọt bắt trò nghiêm mà tự trò thấy cái hay, cái đẹp chữ
nghĩa thánh hiền để tự mình bắt mình nghiêm ở trường và ở nhà.
Học trò trường Huỳnh Cung im phăng phắc nghe thầy nói và dồn mắt nhìn thầy, mỗi người
mang một tâm trạng khác nhau. Ai đã từng thấm lời thầy thì thấm thêm, ai còn chưa đúng với
thầy thì tự lòng giật mình, vì đã phụ công thầy dạy bảo.
Thầy Văn An thâm tâm dường như đồng điệu với trò, tiếp tục nói:
- Trò nào nghiêm được trong học tập và vâng lời thầy ấy là cũng thực hiện mặt nào đó của chữ
hiếu. Không làm trái ý thầ ydạy theo lời lẽ sáchcủa thánh hiền, cũng là chuyên vào cái gốc Đạo
nho.
Thầy Văn an như cần nói thêm ý của mình:
- Chuyên làm được gốc Đạo nho chân chính sẽ không bao giờ gây những cuộc phản loạn. Và
trên trường chính trị, khôgn có loạn thần nghịch tử, thiên hạ sẽ tự nhiên thái bình. Nhưng đây
chỉ là một vế, ý thầy chỉ mới nói về trò học nghiêm.
Trong im lặng, những ánh mắt của trò không rời thầy, thầy lại giảng:
- Nói thày dạy nghiêm, tức là thầy dạy bài nào, thầy dạy hạng nào của trò, thầy phải thấu đáo
từng ý từn glời bài đó. Phải hiểu sự hấp thụ của trò. Không giảng quá cao hoặc quá thấp. Đó chỉ
là một mặt, nhưng cách ăn mặc, cử chỉ, lời nói của thầy phải nghiêm, tức là tuân thủ ý dạy của
Đức thánh, không khó tính, khắt khe những cũng không xuề xòa, vượt khỏi quy định của chữ lễ.
Trò vẫn lắng nghe. Văn An nhấn thêm:
- Cái nghiêm của thầy còn là sự tận tâm chấm bài, công bằng phê điểm. Lại còn cư xử của thầy
khi vắng trò và quan hệ gia đình, bè bạn, làng xóm bao giờ cũng đàng hoàng, chân thật. Người
xưa từng nói: thày nào, trò nấy, có nghĩa thầy là tấm gương sáng cho trò theo.
Cũng gần đúng ngọ, thày Văn An cho trò chuẩn bị tan học. TRưởng, giám và cán tràng như đã
bảo nhăn sẵn hội đồng môn đứng lên chào thầy và rời lớp. Thầy Văn An nhìn họ: đàn ong tỏa đi
khắp ngả, tiếgn vo vo cánh ong bay, như dội vào lòng thầy những tiếng nói rì rầm tin tưởng.
Lát sau, thầy nhìn lại sau lưng, chú bé đuợc cha dẫn đến nhà xin học ngày nào đang khoanh tay
lễ phép, cúi đẫu, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn thầy. Theo yêu cầu của cha chú bé ngày đầu
đứa con nhập trnàg, thầy đặt tên cho chú là Nguyễn Thanh, thay cho cái tên cha mẹ đặt là Văn
Út. Văn An biết cậu học trò có điều gì riêng tư muốn thưa, dịu dàng bảo:
- Trò có gì định nói?
- Dạ, bẩm thầy, Thanh lễ phép, tuy không khỏi ấp úng: năm nay trời làm hạn, nhà con thiếu
thóc ăn, thầy con bảo xin phép thầy cho con nghỉ học.
- Trò nói sao?
- Con xin thầy nghỉ học vì hoàn cảnh...
- Trò không biết, còn vài tháng nữa là con đã xong trung tập, mà xong trung tập, có rẽ ngang,
con cũng tạm đủ vốn liếng, có thể làm thầy đồ dạy trẻ ở làng ư?
- Thầy con và con cũng nghĩ thế, nhưng cảnh nhà con... Nhìn nét mặt trò, Văn An nhớ lại mấy
năm đèn sách ở nhà học Huỳnh Cung, Thanh sức học không nổi trội hẳn, nhưng lúc nào cũng
kính thầy nhường bạn. Thày gặng hỏi:
- Trò không gắng được sao?
- Bao giờ con cũng muốn đi học, học thầy chữ nào con cũng thấy sáng thêm và càng thấy lời
Đức thánh súc tích và bể học thật mênh mông.
Nghĩ ngợi một lát, Văn An ôn tồn bảo:
- Con về nhà nói với bố mẹ gắng cho con học vài tháng hết trung tập, con đi thi đỗ thì là cậu tú,
trượt cũng đuợc sinh đồ.
Thanh buồn rầu:
- Nhờ công ơn thầy dạy bảo, hoàn cảnh gia đình con biết làm sao?
- Thôi, ý thầy là giữ con học hết trung tập, hoàn cảnh con, thầy không con leo cây đã tới cành
cao, bỏ dở tiếc côgn đèn sách.
Trò vẫn lặn gim, thầy ân cần:
- Hoàn cảnh con thầy thưonưg lắm, chí tiến thủ của con, cũng rõ. Con về nhà xin phép cha mẹ,
từ ngày mai con sang ở với thầy, thầy nhờ hai bác chủ nhà nấu thêm cơm, và sẽ xin phép cho
con ngủ ở mé chái nhà con bỏ không.
Không ngờ toại nguyện, Thanh hớn hở chào thầy rồi xin phép về nhà ở xã bên cạnh.
Ăn xong bữa cơm trưa, Văn An khăn áo về Thanh Liệt thăm mẹ. Mở trườgn ở đây, lý do chính là
đắc địa phong thủy, nhưng còn chút u uẩn, đây là quê mẹ, Mẹ theo tập quán hương ẩm, sống
nkương náu ở quê ngoại, quê mẹ mình , chứ không phải quê người, khôgn có ràng buộc huyết
thống, vẫn chỉ đựoc coi là dân cư ngụ, thường bị rẻ rúng, không được dự hương ẩm làng trong
các kỳ hội hè, đình đám.
Làng mà Chu Văn An đặt trường Huỳnh Cung giáng với làng mẹ sinh ssống, Văn An thương mẹ,
nhưng vì trách nhiệm dạy học, nên phải rời xa không đuợc đêm ngày hầu hạ. Bởi vậy, dù còn
uẩn khúc tâmt tư. Văn An vẫn thường về thăm mẹ.
Văn An thủng thỉnh đi trên con đường liên xã, gói Đầm Mực vãn mát rượi vuốt ve thầy giáo,
dường như chia sẻ tâm tư, dường như thì thầm những lời ngọt lịm về đạo lý làm ngưoiừ động
viên thầy giáo Chu Văn. Từ phía bên kia đầm trên gò cao, ngôi trường Huynh fCung đơn sơ tre
nứa, nhưng vẫn có cái gì lồng lộng đẹp sáng tự hào.
Đã qua ngọ lâu rồi, nhưng nắng chiều còn gay gắt. Tìm bóng cây râm mát, lứa gà đa được thay
thế bao lần rồi đang cục cục gọi con. May mắn Chu Văn An duy trì đuợc trường Huỳnh Cung,
nên lứa gà cũ được giữ lại. Rồi gà mẹ lại đẻ gà con, đàn gà ngày một đông đúc. Văn An vui vui ,
lứa gà con, qua mấy đời gà được nở trứng, ấp con và nuôi nấng, lứa gà trước đây, vẫn còn nòi
giống duy trì. Con mái mẹ hiệnnay, xòe cánh ấp mát cho đàn con, nó bỡ ngỡ nhìn Văn An, thầy
giáo cũng hiểu, vì mình ít về nên chắc hẳn nó cảm thấy lạ. Văn An cười xòa, thầy giáo còn có
bao nhiêu gà con b iết nói đang khát khao học tập ở trường Huỳnh Cung mà thầy phải gắn bó
trách nhiệm để vun xới!
Nhìn con trai, chững chạc, với vẻ mặt mô phạm khả ái, bà Chiêm đon đả:
- Biết con hôm nay về, mẹ đã đốt trầu, vẫn dư niêu cá rô con, con t hích ăn với rau muống chấm
tương ngọt. Lại cả gạo tám xoan hơn đấu lãi của mẹ ở phiên chợ, mẹ chạy hàng sáo sáng nay.
Rau muống thả bè, mình dày nhưng chín mềm chấm với tương ngọt. Lại cả đĩa rô ron, mềm rục
và mùi thơm của gạot tám soan nghi ngút bốc lên từ bát cơm mẹ xới đầy. Văn An ăn hai bát,
lửng dạ, còn muốn ăn thêm. Nhưng, nghĩ lời Đứ cThánh dạy: ngưoiừ quân tử ăn khôgn cần no...
(quân tử thực vô cầu bão), dù mẹ ép xới nửa bát nữa nhưng Văn An đặt chiếc bát và đôi đũa
trên mâm, "vô phép" mẹ, rất từ rốn, lễ độ và cương quyết. Có lẽ, quyến luyến tình thầy trò ở
trường Huỳnh Cung, Văn An thấy chưa đủ, vì cái cần khác của con người, là tình mẫu tử gắn bó,
thiêng lieng. Mỗi lần về thăm mẹ, dù Văn An đã học cao và làm thầy giáo, cái không thể thiếu
với anh là hơi ấm của mẹ, anh cảm thấy mình giống như chú gà con lúc nào cũng thích rúc vào
cánh gà mẹ ở ngoài sân.
3. Những tấm lòng của người dạy học có
tâm huyết
Nếu ngày nay, có ai đó vì người dạy học, trong từng năm, như người lái đò chở khách qua
sống, thì có lẽ ngày xưa, không có sự ví von hình ảnh đáng buồn này. Bởi vì, trật tự xếp hạng
người xưa "quân, sư, phụ", nghĩa là thầy giáo được xếp dưới vua và trên cả người cha. Hơn nữa,
lại có câu: "một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy", đủ biết vị trí người dạy học được coi
trọng biết chừng nào.
Đặc biệt, với thầy Chu Văn ở trường Huỳnh Cung, trình độ dạy học và đức độ thầy, ngưoiừ xưa
thường ví như sao Bắc Đẩu , như sao Khuê, uy tín, tiếm thơn lan truyền nhiều địa phương, kể
cả Thăng Long và những vùng xa khác.
Và, uy tín của thầy đến nỗi ở trường Huỳnh Cung lan truyền một chuyện có tính chất huyền
thoại như sau: Năm ấy, trời làm hạn hán, đúng thời điểm lúa con gái đang cần nước. Nhiều nơi
lập đàn cầu đảo nhưng trời vẫn nắng chang chang. Trong số học trò theo học có một ngưoiừ
hành tung thật lạ lùng, cứ đến lúc thầy sắp giảng bài, thì cậu mới tới và ngồi phía giới. Thầy
Chu đã để ý quan sát nhiều buổi và cảm thấy ngồi ngộ. Một lần tan lớn, trò được gọi đến, thầy
nói:
- Anh có biết, dạo này khô hạn, dân tình nháo nhác chờ mưa và lo đói. Anh có cách gì giúp dân?
Ngưoiừ học trò đó ngạc nhiên nhìn thầy. Biết thầy đã rõ mọi chuyện, cậu lễ phép thưa:
- Thầy bảo, con xin cố.
Đoạn, anh ta nhúng bút vào nghiên mực, vẩy lên bốn phía. Như có phép lạ, trời tối sầm lại, sấm
chớp đùng đùng và mưa như trút khắp vùng trương đóng và những vùng khác nữa. Dân tình, ai
cũng mở cửa trong bụng. Ruộng thấp, ruộng cao, đều no nước, lá lúa tốt xanh mơn mởn.
Buổi học hôm sau, vắng anh học sinh ấy. Lại thấy, ở Đầm Mực có xác con thuồng luồng lềnh
bềnh nổi. Thì ra đó là con vua Thủy Tề nghe tiếng dạy học của thầy Chu Văn nên đội lố tngưoiừ
đến học, nhưng vì tự ý làm mưa trái ý của vua Thủy Tề, nên bị vua trị tội.
Thầy Chu Văn cùng dân làng cho chôn xác con thuồng luồng tử tế. Sau đó lập đề thờ, nhớ ơn
ngưoiừ học trò biết thương dân, hy sinh tính mạng đáng quý.
Dù truyện ấy là huyền thoại, nhưng vẫn còn cái lõi hiện thực, là tiếng thơm của Thầy Chu đồn
xa, động đến cả cung vua Thủy Tề, khiến con trai vua cũng phải đội lốt người theo học. Mặt
khác, chứng tỏ việc dạy và học ở trường Huỳnh Cung, thầy trò vẫn không xa rời dân và luôn gắn
bó với sản xuất.
Lịch sử nước ta, thời thịnh Trần gắn liền với chiến công vang dội ngàn thu của Trần Hưng Đạo
ba lần chiến thắng Nguyên - Mông.
Nhưng hào khí Đông A chỉ vang vọng ít đời sau Hưng ĐẠo Vương, vì đất nước không còn chiến
tranh, đi vào hàn gắn vét thương chiến tranh và lo toan sản xuất để làm nước mạnh, dân giàu.
Tiếc rằng, thanh bình và quyền lực kích thích không ít dục vọng cá nhân của vua, quan cầm
quyền. Máu quỳên lực làm cho từ vua đến quan mờ tối. Đời sống người dân lương thịên,
ngưoiừ dân mà thời kháng chiến chống Nguyên - Mông không hề tiếc tính mạng, sức lực, tiền
của, theo vua, để làm cho kháng chiến thắng lợi, mỗi ngày một điêu đứng.
Đời Trần Anh Tông (1293 - 1314), bắt đầu có tín hiệu lung lay ở ý thức tư tưởng xã hội. Đã xa
rồi cái thời cao tăng đựoc mời vào đóng góp nhiếp chính. Lại càng xa rồi, tình cảm phơi phới
của nhà sư Lý Mãn Giác, tuy tu Thiền những vẫn còn rung động, khi nhìn cánh mai xuân hé nở
vào sáng sớm tinh mơ.
Thi cử là b iện pháp hữu hiệu tuyển chọn nhân tài, là thước đo trình độ dân trí đất nước, nhất là
dịp tìm kiếm hiền tài. Nội dung chương trình học, nội dung thi, cũng phản ánh yêu cầu chính
trị xxa hội, thái độ chính trị của triều đình. Và, khoa thi Giáp thìn (1304) Trần Anh Tông đột
ngột gạt bỏ kinh điển Phật giáo ra khỏi khoa thi.
Tất nhiên, sự gạt bỏ này làm cho không ít thầy trò "lỡ đà" trong bước quá độ. Mặt khác cũng
không tránh được sự khôgn chín chắn, theo thời khi đánh giá về Phật giáo.
Lê Quát, học trò Chu Văn An, cũng rơi vào trường hợp này. Bài Phật khá gay gắt, Lê Quát viết:
"...Ngày nay, coi việc làm chùa, xây tháp thì hớn hở, như nắm chắc thiện báo sẽ được hưởng
phúc về sau. Dù dân còn túng thiếu, nhưng làm chùa, sửa chùa, ai cũng quá sùng tín bỏ việc sản
xuất đi làm chùa!"
Nhận định của Lê Quát gây phản ứng không ít tro...
 





