Lợi ích của việc đọc sách. Tại sao chúng ta nên đọc sách mỗi ngày

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát Bài ca Thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat.png Bang_tuan_hoan_cac_nguyen_to_hoa_hoc.png C2516777469765417.jpg Z5598716602347_053fc9e0be9a1e83163ba5cd1d9735e8.jpg Z5598716709850_9934871269da7f79c8094762431a4dc6.jpg Z5598716608761_7dfded384a6c4a0cdabc402d8ec5bcf7.jpg

    Sách điện tử Sách tham khảo

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÝ TỰ TRỌNG - THÀNH PHỐ NINH BÌNH💕💕

    Văn hóa đọc trong thời đại số

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Kể chuyện danh nhân tập 3 Danh nhân khoa học Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Tươi
    Ngày gửi: 08h:25' 05-07-2024
    Dung lượng: 5.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    1

    Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
    Lê Minh Quốc
    Danh nhân khoa học Việt Nam / Lê Minh Quốc. - Tái bản có chỉnh sửa, bổ sung. - T.P. Hồ
    Chí Minh : Trẻ, 2009
    250tr. : tranh ảnh, hình vẽ ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam ; T.3)
    1. Danh nhân -- Việt Nam. 2. Nhà khoa học -- Việt Nam. I. Ts. II. Ts: Kể chuyện danh nhân
    Việt Nam.
    959.7092 -- dc 22
    L433-Q16

    nhà xuất bản trẻ

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    4

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong Bình Ngô đại cáo, nhà văn hóa Nguyễn Trãi khẳng định: “Như
    nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã
    chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần xây nền độc
    lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Dẫu cường
    nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Vâng, “hào kiệt
    lúc nào cũng có”. Đây là một thực tế về sức sống trường tồn, mạnh
    mẽ của dân tộc ta, non sông đất nước ta.
    Non sông, đất nước ta trải qua hơn 4.000 năm văn hiến đã sinh
    ra biết bao người con ưu tú. Hầu như trong mọi lĩnh vực đều có
    nhiều danh nhân đóng góp công đức to lớn. Đó là những con người
    trí tuệ thông minh, nghị lực phi thường, có tinh thần yêu nước nồng
    nàn đã cống hiến tất cả tinh hoa của đời mình cho Tổ quốc. Những
    con người ưu tú ấy mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta trong quá
    trình hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước.
    Nhằm góp phần giúp thế hệ trẻ hôm nay và mai sau thấm nhuần
    công đức và học tập những tấm gương danh nhân ấy, Nhà xuất bản
    Trẻ chủ trương thực hiện bộ sách nhiều tập “Kể chuyện danh nhân
    Việt Nam” với nhiều chủ đề khác nhau. Trong tập sách này, chúng
    tôi đề cập đến các nhân vật đã có nhiều cống hiến lẫy lừng trong
    lĩnh vực nghiên cứu khoa học, kỹ thuật. Do khuôn khổ có hạn của
    một tập sách, chúng tôi chỉ giới thiệu được những danh nhân tiêu
    biểu, và sẽ tiếp tục trong các tập sau. Về thứ tự của nhân vật, trước
    mắt chúng tôi sắp xếp theo năm sinh, không xếp theo alphabet.
    Trong tập sách này là các danh nhân Lương Thế Vinh, Vũ Hữu
    5

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    – hai nhà toán học thế kỷ XV; Lê Quý Đôn – nhà bác học vĩ đại của
    thế kỷ XVIII, Hồ Nguyên Trừng – người đã đúc súng thần công;
    hoặc Cao Thắng đã chế tạo được súng trường theo kiểu của Pháp.
    Bên cạnh đó chúng tôi còn giới thiệu một số nhân vật hiện đại như
    giáo sư Trần Đại Nghĩa – người đã chế tạo súng Bazooka trong
    kháng chiến chống Pháp; hoặc giáo sư Tạ Quang Bửu, bác sĩ Đặng
    Văn Ngữ, bác sĩ nông học Lương Định Của, nhà toán học Lê Văn
    Thiêm, Hoàng Tụy, nhà vật lý hạt nhân Nguyễn Văn Hiệu… đều
    là những nhân vật có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực
    khoa học nước nhà.
    Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề cập đến những bậc lương y
    như từ mẫu. Họ đã để lại nhiều công trình nghiên cứu y khoa rất
    có giá trị. Trong dòng phát triển của nền y học dân tộc nước ta đã
    có những bậc danh y cũng đều tâm niệm như thế. Ngay từ đời
    nhà Lý (1090-1224) triều đình đã tổ chức Ty thái y, sang triều nhà
    Trần (1225-1399) đã phát triển lên thành Viện thái y. Rồi sau khi
    đánh đuổi giặc Minh, nhà Lê (1428-1788) cũng rất chú trọng đến
    việc phát triển nền y học nước nhà; bộ Luật Hồng Đức đã đặt quy
    chế nghiêm ngặt về nghề y v.v... So với nền y học của phương bắc,
    chúng ta tự hào cũng có bản sắc riêng – trong lời ăn tiếng nói của
    nhân dân còn ghi nhận:
    Đó có Hoàng cầm, Hoàng kỳ
    Đây có Chỉ xác, Trần bì kém chi
    Qua thực tế, ông cha ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm
    phòng bệnh, chữa bệnh như “Cơm no chớ có chải dầu / Đói lòng chớ
    có tắm lâu tật nguyền”; “Nhiều tiền hoàng cầm hoàng kỳ, ít tiền trần bì,
    ngũ sắc”; “ Sạch sẽ là mẹ sức khỏe”; “Cứu bệnh như cứu hỏa”; “Đau bụng
    lấy cùm cụm mà chườm/ Nhược bằng không khỏi hoắc hương với gừng”;
    hoặc “Đậu xanh, đu đủ, của chua/ Có tính rã thuốc chớ cho uống cùng”
    v.v… Rõ ràng đây là một nhận thức khoa học nhằm bảo vệ sức khỏe
    mà ông cha ta đã tổng kết từ thực tế của đời sống.
    Nay, chúng tôi viết về Thánh Y Hải Thượng Lãn Ông – người
    6

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    đã phát huy chủ trương của Tuệ Tĩnh thiền sư “Nam dược trị Nam
    nhân” và để lại công trình khoa học có trị lâu bền Hải Thượng y tôn
    tâm lĩnh mà trong Hội nghị kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông
    do Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội năm 1970 đã khẳng định: “Bộ sách
    quý đó không những đã trở thành ông thầy mẫu mực cho các thầy
    thuốc ở nước ta trong hàng trăm năm trước đây và người chỉ dẫn
    cách phòng và chữa bệnh cho đông đảo nhân dân lao động mà còn
    vạch ra những vấn đề rất sâu sắc về tư tưởng, quan điểm, nội dung
    và phương pháp đáng nghiên cứu, đáng học tập cho các nhà y học
    và khoa học của nước ta hiện nay và sau nay”. Kế tiếp là các danh
    y như Hoàng Đôn Hòa - thầy thuốc đời nhà Lê, tác giả của quyển
    sách thuốc Hoạt nhân toát yếu- sau khi mất được nhân dân tôn thờ là
    “cứu người công đức khắp cõi bao la”; là Nguyễn Hữu Đạo – thầy
    thuốc cũng dưới đời nhà Lê – đã viết quyển Mạch học, Y lý tinh ngôn
    đóng góp không nhỏ cho nền y học nước nhà; là Quốc thủ danh y
    Trịnh Đình Ngoạn – người có công dựng Y miếu Thăng Long từ
    năm 1774; là thầy thuốc Nguyễn Tử Siêu đã dành hết cả cuộc đời
    cho mục tiêu “cứu nhân độ thế”...
    Trong các nhân vật thời hiện đại, chúng tôi đề cập đến những
    bác sĩ đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, y học ích nước
    lợi dân. Đó Phạm Ngọc Thạch – một thầy thuốc đã có công chế tạo
    ra thuốc B.C.G chết phòng lao. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người
    đã hướng dẫn cho nhân dân biết thở đúng cách để phòng, trị bệnh
    theo phương pháp dưỡng sinh và cũng là người sáng lập trung tâm
    nghiên cứu tâm lý trẻ em. Bác sĩ Hồ Đắc Di, Đỗ Xuân Hợp – ngoài
    nhiều công trình cống hiến quý báu cho nền y học nước nhà, còn là
    những giáo sư mẫu mực có công lớn đào tạo nhiều thế hệ thầy thuốc
    sau nầy. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đóng góp nhiều công trình y học
    và cũng là người đề ra phương pháp dưỡng sinh trong nhân dân…
    Bác sĩ Tôn Thất Tùng – người Việt Nam phát minh phương pháp
    cắt gan có quy phạm. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ – người chế ra nước lọc
    Penicillin. Tuy là những bác sĩ được đào tạo theo Tây y nhưng các
    bác sĩ trên cũng là những người đã ý thức “Phát huy chặt chẽ Đông
    7

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    y và Tây y trong công tác y tế trên mặt trận phòng chữa bệnh, sản
    xuất thuốc men, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học” theo chủ
    trương của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Trong quá trình biên soạn chúng tôi tham khảo nhiều tư liệu,
    có ghi rõ trong phần sách tham khảo. Ngoài hình ảnh chụp thực
    tế, chúng tôi còn sử dụng nhiều hình ảnh minh họa khác - nhằm
    giúp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về nhân vật đề cập trong sách này.
    Ảnh minh họa chủ yếu được sử dụng từ nhiều nguồn khác nhau,
    như tranh khắc gỗ của Henri Oger – cựu sinh viên trường đại học
    Sorbonne – thực hiện đầu thế kỷ XX, hoặc các ảnh chụp từ đầu thế
    kỷ XX, kể cả một số ảnh sưu tập trên internet mà chúng tôi không
    rõ tác giả. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến với các tác giả tập
    sách, tác giả ảnh đã thực hiện nhằm giúp cho chúng tôi thuận lợi
    hơn về mặt tư liệu khi biên soạn.
    Nhân đây cũng xin được nhắc lại, tập Danh nhân Khoa học Việt
    Nam là tập sách nằm trong bộ sách nhiều tập Kể chuyện danh nhân
    Việt Nam do nhà thơ Lê Minh Quốc biên soạn; được phân chia theo
    chủ đề: Danh nhân khoa học Việt Nam, Các vị tổ ngành nghề Việt Nam,
    Danh nhân sư phạm Việt Nam, Danh nhân văn hóa Việt Nam, Danh nhân
    quân sự Việt Nam, Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Danh nhân Cách mạng
    Việt Nam. Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc – nhất là các
    bạn thanh thiếu niên – chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp
    đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của các nhà sử học và của
    các bạn đọc xa gần để bộ sách này ngày một hoàn hảo hơn. Trước
    hết xin độc giả ghi nhận ở đây sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    8

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    VŨ HỮU
    Nhà toán học trứ danh của thế kyÛ XV

    Tại làng Mộ Trạch, huyện Đường An (sau đổi là Bình Giang, nay
    thuộc Hải Dương) có cậu bé nổi tiếng thông minh, đĩnh ngộ, tên là
    Vũ Hữu. Về năm sinh của Vũ Hữu, mỗi tài liệu ghi mỗi khác. Theo
    Công dư tiệp ký của tiến sĩ Vũ Phương Đề soạn năm 1755: Xét gia phả
    riêng và Đăng khoa lục thì Vũ Hữu sinh năm Tân Dậu (1441) và cho
    biết thêm: “Bố ông là Bá Khiêm làm An phủ phó sứ lộ Quy Hòa,

    Cổng làng Mộ Trạch - quê hương nhà toán học Vũ Đức

    9

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    có nhiều âm đức, sinh hạ năm con trai và một con gái đều được
    vinh hiển. Lúc sinh thời, Bá Khiêm ở một ngôi nhà cũ, các học trò
    gọi là Truy Viễn tử đường. Trước nhà có một cây thông cổ thụ, cao
    lớn ngất trời. Tùng Hiên tiên sinh (tên hiệu của Hoàng giáp Vũ Cán)
    bảo đó là một trong tám cảnh đẹp ở xã Mộ Trạch”.
    Thuở nhỏ, nhà ông bác của Vũ Hữu có cây mít to, nhiều quả.
    Một người láng giềng có tính tham lam, ban đêm lẻn sang hái trộm
    rồi đem ra chợ bán. Ông bác thấy mất, vội chạy ra chợ, thoạt nhìn,
    biết ngay là mít của mình. Nhưng người bán mít cãi lấy cãi để còn
    ông không có cách gì để chứng mình người bán là kẻ ăn trộm, chỉ
    còn biết tiếc của kêu trời. Cậu bé đi theo ông bác liền nói:
    - Bác chờ cháu một chút, cháu sẽ tìm ra chứng cớ ngay thôi!
    Nói xong, cậu vụt chạy về nhà, lát sau đem ra chợ toàn là cuống
    mít! Cậu nói với người bán mít:
    - Ông cứ chắp những cái cuống này vào những quả mít kia, nếu
    đúng khớp thì mít là của bác tôi.
    Mọi người làm theo lời cậu bé. Quả nhiên cuống nào quả nấy,
    chẳng sai chút nào! Chỉ với trí thông minh, lanh lợi như thế cậu bé
    đã tìm ra kẻ trộm dễ như lật bàn tay. Từ đó dân chúng trong vùng
    ai cũng biết tiếng cậu bé thần đồng Vũ Hữu, nổi tiếng học giỏi và
    tính toán nhanh.
    Có lần ông được bố dẫn sang chơi nhà người bạn. Ông chủ nhà
    có cái điếu thuốc lào khảm bạc, làm tinh vi, chạm trổ khéo léo mà
    cả vùng không ai có. Hai ông già gặp nhau ngồi chuyện trò tâm
    đắc. Sau khi rít một hơi thuốc lào, ông bố Vũ Hữu nói:
    - Nếu mà cái nõ điếu này cũng làm bằng bạc thì quý biết bao
    nhiêu nhỉ?
    Ông chủ nhà đáp:
    - Ấy, tôi cũng định thế. Nhưng chưa biết phải mua bao nhiêu
    bạc thì vừa, nên còn chần chừ mãi.
    10

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    Rồi như sực nhớ điều gì, ông ta nói tiếp:
    - À này bác, nghe nói thằng con trai của bác giỏi tính toán lắm!
    Sao không để nó tính thử xem sao?
    Thế là cậu bé Hữu đang chơi ngoài sân được bố gọi vào. Cậu
    bé liền cầm lấy chiếc nõ điếu nhưng vẫn chưa tìm ra được cách đo,
    bỗng ông chủ nhà rót chén trà đưa cho cậu:
    - Uống chén trà cho minh mẫn đầu óc rồi hãy tính toán cháu ạ!
    Bằng hai tay, cậu bé đỡ chén nước, nhưng chưa vội uống ngay.
    Không hiểu nghĩ sao, cậu lại đặt chén nước trà xuống bàn rồi lại
    nghiêng ấm rót thêm cho thật đầy. Nước sóng sánh chỉ chực trào
    ra khỏi miệng chén. Cậu reo lên:
    - Cháu đã có cách tính rồi!
    Đoạn cậu đặt cái chén trà vào trong tách, rồi thả chiếc nõ điếu
    vào đó, nước tràn lênh láng ra tách. Chẳng ai hiểu tại sao cậu bé
    làm như thế. Cậu lại rót nước trong tách vào ly khác, rồi đưa ly cho
    ông chủ nhà:
    - Thưa bác, số bạc cần mua để đúc chiếc nõ điếu bằng đúng khối
    nước trong chén này ạ!
    Vậy là bằng con đường suy luận sáng tạo, cậu bé Vũ Hữu đã biết
    cách tính thể tích của những vật khó đo lường. Lớn lên nhờ miệt
    mài học tập, nghiên cứu, cậu đã đỗ Hoàng giáp lúc 23 tuổi và ra
    làm quan dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Vũ Hữu đã
    có những tính toán sắc sảo được người đương thời ca tụng và lưu
    truyền đến ngày nay. Một lần, nhà vua quyết định cho sửa lại mấy
    cửa thành Thăng Long được xây từ thời nhà Lý đã hư hỏng nặng.
    Nhà vua quyết định giao cho quan đại thần tính toán vật liệu và
    định ngày khởi công. Thế nhưng, mấy vị quan này cứ đo đạc và
    tính toán mãi mà không xong. Biết Vũ Hữu là người giỏi toán, nhà
    vua gọi và giao nhiệm vụ. Chỉ nội trong ngày, ông đã trình lên vua
    bản tính toán số gạch cần phải có để xây lại thành. Tại sao ông có
    thể tính toán nhanh như vậy? Các quan đại thần khẽ tâu:
    11

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    - Tính toán mà vội vàng như vậy, sợ rằng làm ẩu?
    Vũ Hữu tâu lại:
    - Tâu bệ hạ! Số vật liệu đã tính toán xong. Nếu thiếu hay thừa
    một viên gạch thì thần xin chịu tội!
    Các quan đại thần thấy Vũ Hữu tính toán số gạch sai lệch với
    họ quá nhiều thì lấy làm bực tức lắm. Họ tìm cách phá đám để Vũ
    Hữu phải bẽ mặt mà chịu tội.
    Đúng ngày khởi công, ông đưa mắt nhìn đống gạch đã sắp xếp
    vuông vắn, có đánh dấu trước thì thấy thiếu một viên. Ông liền tâu
    vua để xin bổ sung ngay một viên gạch khác. Các quan đại thần
    căng mắt ra để nhìn Vũ Hữu đang đôn đốc đám thợ lành nghề đang
    thi công, họ bảo nhau:
    - Phen này, cứ căn vào bộ luật Hồng Đức thì Vũ Hữu chỉ có nát
    thây!
    - Đúng thế, làm sao xây mà không thừa không thiếu được một
    viên gạch chứ? Có lẽ thần toán thì cũng chẳng tính nổi đâu!
    Trong lúc đó, Vũ Hữu cứ lẳng lặng với công việc của mình. Chẳng
    bao lâu, cổng thành đã xây xong và số gạch còn thừa đúng một viên.
    Các quan đại thần lấy làm hỉ hả lắm, họ reo lên thích thú:
    - A! Ngài tính toán giỏi nhỉ? Vẫn còn thừa đúng một viên đấy
    chứ?
    Khi họ đưa viên gạch này lên cho vua, ngài nhận xét:
    - Sao lại thế nhỉ? Viên gạch này lại khác kích thước với các viên
    gạch đã dùng!
    Vũ Hữu tâu:
    - Tâu bệ hạ! Bệ hạ thật anh minh và tinh tường. Quả thật đúng
    như vậy. Thần đã tính toán đúng số gạch để sửa sang các cửa. Nhưng
    khi kiểm tra chung, thần thấy phía mặt kia, tường còn chắc chắn,
    chỉ cần thay vào đó một viên gạch là ổn thôi. Thần đã ước lượng
    viên gạch đưa vào lỗ hổng ấy nên như thế nào, và ra lệnh làm viên
    gạch khác cỡ. Chính là viên gạch này đây ạ!
    12

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    Nhà vua ngờ
    rằng, Vũ Hữu tính
    toán sai nên chống
    chế như vậy chăng,
    liền sai thợ đem viên
    gạch thừa gắn vào
    chỗ mà Vũ Hữu dự
    định, không ngờ
    viên gạch vừa khít
    với lỗ hổng! Bấy
    giờ, nhà vua mới hài
    lòng mà các vị quan
    đại thần cũng không
    bắt bẻ được. Vua rất
    lấy làm khen ngợi
    bảo rằng:

    “Mộ Trạch tinh hoa” được thế hệ sau tôn vinh

    - Thật là thần toán!
    Rồi thưởng cho Vũ Hữu hơn trăm mẫu ruộng tốt để biểu dương
    tài năng của ông.
    Do giỏi toán như thế nên Vũ Hữu đã dành nhiều công sức để
    biên soạn tác phẩm Lập thành toán pháp, trong đó ông hướng dẫn
    cách đo ruộng đất, tính toán việc làm nhà cửa v.v… phổ biến rộng
    rãi trong cả nước.
    Ra làm quan từ năm 1463 được hưởng nhiều bổng lộc của triều
    đình, nhưng Vũ Hữu sống rất thanh liêm, cuộc sống gia đình cần
    kiệm, ông có câu thơ tự bạch:
    Thấm thoát tròn năm quan trải khắp,
    Trâu mổ thì có thiếu trâu cày.
    Ông làm đến Thượng thư bộ Hộ, tước Tùng Dương Hầu. Lúc
    gần 90 tuổi vẫn còn được triều đình tín nhiệm giao làm Nguyên lão
    đại thần. Không những thông minh trong toán học, ông còn khôn
    khéo trong việc ứng xử. Tương truyền có lần sứ Tàu sang thách vua
    13

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Lê đấu cờ. Ở làng của Vũ Hữu có người giỏi cờ là Vũ Huyên được
    tiến cử để giúp vua. Nhưng giúp như thế nào để sứ Tàu không biết?
    Vũ Hữu bèn hiến kế: cho Vũ Huyên cải trang làm tên lính vác lọng,
    trên lọng chọc thủng một lỗ để ánh nắng có thể xuyên qua được. Vũ
    Huyên đứng gần lọng và mách nước cho nhà vua bằng cách xoay
    lọng cho ánh nắng chiếu đúng con cờ cần đi và chỗ phải đến. Nhờ
    vậy, vua Lê đã thắng cờ với sứ giả Tàu.
    Vũ Hữu mất năm 1530, cháu ông là Lê Quang Bí có thơ đề vịnh:
    Hào kiệt nguyện trong tiến sĩ khoa,
    Chữ cần chữ thận chẳng sai qua.
    Ti tài thử khắp tài năng rõ,
    Liêu hữu suy tôn đức nghiệp già.
    Đường tướng thủ văn so Tống Cảnh,
    Tấn triều bác vật sánh Trương Hoa.
    Môn đình rực rỡ xanh màu tía,
    Tích thiện cho hay bởi những nhà.
    Ngày nay, ở thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình (Hải
    Dương) mọi người vẫn còn tự hào và truyền tụng những câu chuyện
    về toán học của Vũ Hữu. Như vậy, ở thế kỷ thứ XV nước ta có hai
    người giỏi toán, viết sách toán đầu tiên để lại cho đời sau là Trạng
    nguyên Lương Thế Vinh và Hoàng giáp Vũ Hữu.

    14

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    Nhà thờ nhà toán học Vũ Hữu (1441-1530)

    Mộ Vũ Hữu hiện nay
    tại làng Mộ Trạch

    15

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    LƯƠNG THẾ VINH
    Ông trạng giỏi toán

    Chúng ta thử làm bài toán đố
    cách đây trên 550 năm – được chép
    trong tác phẩm toán học của một
    ông Trạng nước ta:
    Kim hữu gia kê nhất đại quần,
    Đình tiền tụ thực tẩu phân phân.
    Nhất bùng tam phụ, phụ ngũ tử,
    Nhất bách thất thập nhất đầu
    thân.
    Số nội kỷ đa hùng, phụ tử,
    Vấn quân bổ toán đắc tường vân?
    Trạng nguyên Lương Thế Vinh
    ở đền thờ Trạng, xã Liên Bảo
    huyện Vụ Bản, Nam Hà

    (Nghĩa là: Nay có gia đình nhà
    gà quây quần đông đủ, tụ tập ăn
    thóc trước sân, chúng chạy nhảy lung tung. Cứ 1 con gà trống có ba
    3 gà mái, 1 con gà mái có 5 con gà con. Đếm đi đếm lại tất cả được
    171 vừa đầu vừa thân. Trong số đó có bao nhiêu gà trống, gà mái,
    gà con, hỏi anh có tính toán rõ ràng được không?).
    Người đặt ra bài toán này là Lương Thế Vinh. Ông sinh năm
    1442, tự Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện
    Thiên Bản, đạo Sơn Nam (nay thuộc làng Cao Phương, huyện Vụ
    Bản - Nam Định, giáp tỉnh Hà Nam). Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng
    thông minh, tính tình phóng khoáng, hoạt bát, hay khôi hài. Ông
    16

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    đỗ Trạng nguyên năm 1463 và do giỏi tính toán, có viết sách nghiên
    cứu về toán như Đại thành toán pháp nên mọi người thường gọi là
    Trạng Lường. Người ta kể lại rằng: Khi vinh quy bái tổ võng lọng về
    làng, các quan lại, lý dịch ở địa phương mũ áo chỉnh tề ra lộ chính
    để đón. Nhưng Lương Thế Vinh lại bảo mọi người rẽ ra đường tắt,
    qua bãi chăn trâu - nơi mà ngày xưa ông từng chăn trâu, từng chỉ
    cho bạn bè cách câu cá, bẫy chim, chơi thả diều... Thế là đoàn người
    gồm võng lọng xa giá lẫn trẻ chăn trâu về làng trong tiếng reo hò
    vui vẻ. Tính cách của ông Trạng Lương Thế Vinh đã để lại nhiều
    giai thoại rất thú vị. Tương truyền, có lần ông sang làng Phúc Khê,
    huyện Thanh Lan (Thái Bình) thăm người bạn thân là Quách Đình
    Bảo. Sức học của hai người cũng ngang ngữa nhau, chẳng hạn, khoa
    thi Hương năm 1462, ông Vinh đậu giải nguyên, còn ông Bảo chỉ
    đậu thứ hai. Đến kỳ thi Hội, ông Bảo đậu Hội nguyên, còn ông Vinh
    chỉ đậu thứ hai trong số 44 người. Từ chỗ mến tài nhau mà cả hai
    thân thiết, thường gặp gỡ trao đổi nhau về kinh sách. Khi Lương
    Thế Vinh đến đầu làng, dưới bóng đa râm mát, ngồi nên chõng tre
    uống bát nước chè, ông nghe người trong làng kháo với nhau:
    - Này các bác ạ! Làng ta thật đại phước. Năm nay, sẽ có người
    đỗ trạng đấy!
    Bà chủ quán nhổ toẹt bả trầu xuống đất rồi hỏi lại:
    - Sao bác lại biết thế?
    Bác nông dân cười khà:
    - Cứ trông cậu Bảo thì rõ! Đã ba tháng nay cậu Bảo đóng cửa học
    tập ôn thi, chứ không tiếp ai cả! Cậu ta chong đèn học thâu đêm
    đến quên ăn quên ngủ…
    Nghe vậy, uống xong ngụm nước chè, Lương Thế Vinh đứng
    dậy cười nói:
    - Ối dào! Còn những ba tháng nữa mới đến ngày thi mà cậu ta
    học như thế thì ai theo cho kịp? Tôi định sang tìm gặp bạn để trò
    chuyện, nhưng bạn bận học như thế thì còn đâu thời gian để tán
    gẫu. Xin nhờ bác nói giúp là tôi có sang chơi.
    17

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Nói xong, ông đi thẳng. Chủ quán hỏi tên nhưng ông không đáp.
    Mấy ngày sau, ông Bảo vừa cầm sách học vừa đi lửng thửng ra quán
    nước, nghe bà chủ quán thuật lại, giật mình thầm nhĩ:
    - Người này chỉ có thể là Lương Thế Vinh, nhân đây ta sang thăm
    bạn để xem bạn đã ôn tập đến đâu rồi!
    Vài ngày sau ông Bảo sang thăm bạn. Không ngờ khi đến nơi thì
    ông Vinh đi vắng. Hỏi đi đâu thì người nhà mới chỉ tay ra ngoài cánh
    đồng lộng gió. Ra đến nơi, ông Bảo ngạc nhiên khi thấy bạn mình
    đang reo hò thả diều cùng trẻ con chăn trâu liền kinh ngạc kêu lên:
    - Thi cử đến nơi rồi mà bạn ta vẫn còn vui chơi thoải mái như
    thế được sao? Chao ôi! Tài học như vậy thì ta theo sao kịp?
    Nói xong, Bảo lủi thủi đi về và càng quyết tâm ra sức học tập.
    Nhưng đến kỳ thi Đình năm 1463, không như mọi năm, năm nay
    đích thân vua Lê Thánh Tông ra đề bài văn sách, ngài hỏi về “Đạo
    trị nước của các bậc đế vương”. Với đề thi này, đòi hỏi các thí sinh
    không chỉ thuộc làu kinh sử mà phải có sự suy nghĩ sáng tạo riêng.
    Nhờ không theo lối học vẹt, làm theo “bài văn mẫu” (!) mà bài làm
    của Lương Thế Vinh hơn hẳn các thí sinh khác. Ông đã xứng đáng
    được chấm nhất, đoạt học vị Trạng nguyên; còn Quách Đình Bảo
    chỉ đậu Thám hoa – kém ông hai bậc. Như thế đủ thấy rằng, ngay
    từ thuở trẻ Lương Thế Vinh đã có một lối học phải đào sâu suy nghĩ
    ngoài những điều mà trong sách đã viết – tư duy này phù hợp với
    một người say mê về toán học.
    Thời còn nhỏ, có lần lấy bưởi làm trò chơi đánh phết, chẳng may
    trái bưởi rơi xuống hố sâu. Cả đám trẻ chăn trâu tìm đủ mọi cách mà
    không lấy trái bưởi lên được, Lương Thế Vinh đã lấy nón chạy đến
    vũng nước, múc nước đổ xuống hố. Vừa làm cậu vừa ứng khẩu đọc:
    - Bưởi ơi! Nghe tao gọi
    Đừng làm cao
    Đừng trốn tránh
    Lên với tao
    Vui tiếp nào!
    18

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    Chẳng mấy chốc quả bưởi trồi lên và nằm gọn trong tay Lương
    Thế Vinh.
    Có lần cậu cùng bọn trẻ chăn trâu ngồi hóng mát dưới bóng cây
    cổ thụ. Bọn trẻ đố nhau làm cách nào để biết cây cao bao nhiêu – với
    điều kiện là không được leo lên cây, dùng dây thòng xuống đất mà
    đo. Không ai có thể tính được, đều lắc đầu chịu thua. Lương Thế
    Vinh nhặt cây tre dài 1 mét, rồi dựng đứng lên để đo bóng cây tre, đo
    được nó dài 0 mét 50. Sau đó cậu tiếp tục đi đo chiều dài của bóng
    cây đang đổ dài trên mặt đất. Lẩm nhẩm tính toán một lát, cậu nói:
    - Bóng cây đổ dài xuống đất đo được 3 mét. Vậy chiều cao của
    cây là 6 mét.
    Cách tính độc đáo của Lương Thế Vinh rất chính xác – mà sau
    này chúng ta biết ông áp dụng cách tính của các tam giác đồng dạng.
    Sau khi đỗ Trạng Nguyên, ông ra làm quan, lúc đầu được giao
    nhiệm vụ soạn thảo giấy tờ giao thiệp với nhà Minh. Thời Hồng
    Đức (1470-1479), ông giữ chức quan giáo dục, làm Hàn lâm viện thị
    giảng, Nhập thị kinh diên, làm Tư vấn ở Sùng Văn quán, giữ chức
    Sái phu (sửa chữa và bình phẩm thơ văn) trong Hội Tao Đàn của
    vua Lê Thánh Tông. Như vậy đủ biết, ông hay chữ và uyên bác biết
    chừng nào. Nhưng Lương Thế Vinh còn là một nhà toán học đầy tài
    năng, đã thấy được ý nghĩa quan trọng của toán học. Ông từng nói:
    “Thần cơ diệu toán vạn niên sư” (nghĩa là: Ai tính toán giỏi là người
    thầy muôn đời). Với suy nghĩ đó, ông đã dành nhiều tâm huyết để
    biên soạn sách Đại thành toán pháp – tổng kết những kiến thức toán
    của thời đó và cả những phát minh của ông. Mở đầu sách, ông có
    đề bài thơ khuyên mọi người:
    -Trước thời phải biết cách thương lường,
    Tính toán bình phân ở cửu chương.
    Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển,
    Học lấy tinh tường giúp Thánh vương.
    Lần đầu tiên ở nước ta vào thế kỷ XV, có cuốn sách dạy các
    kiến thức về số học như các phép cửu chương (nhân) các phép bình
    phương (khai căn), đồng phân (chia đều), phương pháp đo lường
    19

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    bóng (phương pháp tam giác đồng dạng), hệ thống đo lường (cách
    cân, đong, đo, đếm…); cách đo điền, đo diện tích các hình vuông,
    chữ nhật, tam giác, hình tròn…
    Về tập Đại thành toán pháp, năm 1721, Phạm Hữu Chung cũng
    có viết một tập sách toán Cửu chương lập thành tính pháp, khắc in
    dưới đời vua Lê Dụ Tông - nhưng căn bản vẫn dựa trên tập sách
    của Lương Thế Vinh. Rồi tiến sĩ Phan Huy Ôn (1755-1786) cũng tiếp
    thu từ hai quyển sách toán trên để viết quyển Chỉ minh lập thành
    toán pháp. Như thế, rõ ràng tập sách của Lương Thế Vinh rất quan
    trọng và có ảnh hưởng đến đời sau. Chính vì thế, trong sách toán
    của Phạm Hữu Chung đã tôn vinh Lương Thế Vinh với những dòng
    nhận định chính xác:
    Việt Nam sinh thánh trị trường
    Nam Sơn, Thiên Bản, Cao Hương sinh hiền
    Đĩnh sinh Lương thị trạng nguyên
    Quán thông lục nghệ, Nam thiên văn tài
    Soạn chương cửu thuật tính lai
    Nhân thu tiết yếu bình, sai giản, trường,
    Cửu, bát, thất, lục, cửu chương
    Tứ, tam, nhị, nhất hợp phương tính bài
    Trứ minh cứ tiện kê khai
    Xử kỳ toán sĩ, thuật lai sở cầu…
    Trong sách toán của Lương Thế Vinh, chẳng hạn, cách tính diện
    tích hình thang, ông viết:
    - Tam giác bị cụt đầu
    Diện tích tính làm sao?
    Cạnh trên, cạnh dưới cộng vào
    Đem nhân với nửa bề cao khắc thành
    Ở mỗi phần, mỗi phương pháp, ông đều có bài thơ Nôm cho người
    đọc dễ nhớ – như khi cộng hai phân số cùng mẫu số, ông viết:
    Cộng hai phân số cùng số dưới (mẫu số)
    Cứ cộng phần trên (tử số) lại với nhau
    20

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    Bộ sách của Lương Thế Vinh lừng lẫy cả nước ngoài. Khi sứ
    thần nhà Minh sang nước ta, nghe tiếng ông không những giỏi văn
    chương mà còn có trí thức uyên bác về khoa học, bèn hỏi:
    - Có phải ông là người làm sách Đại thành toán pháp?
    Ông khiêm tốn trả lời:
    - Vâng, đúng vậy.
    Để thử tài ông, sứ thần nhà Minh vung tay chỉ về phía trước, nơi
    ấy có con voi đang đứng:
    - Vậy quan Trạng nước Nam thử cân con voi kia nặng bao nhiêu?
    Không một chút nao núng, ông đáp:
    - Được!
    Dứt lời, ông lấy chiếc cân, nói quản tượng dắt voi đi về phía bờ
    sông. Sứ thần nhà Minh thấy ông cầm cái cân nhỏ bé như thế bèn
    phì cười:
    - A! Xem ra cái cân đó chỉ cân được cái đuôi con voi mà thôi!
    Bỏ mặc ngoài tai những lời chế giễu, ông sai lính dắt voi xuống
    một chiếc thuyền đang neo gần bờ. Voi nặng, thuyền đằm xuống
    nước. Ông liền đánh dấu mép nước ngay mạn thuyền. Mọi người
    chẳng hiểu ra làm sao cả. Ông ôn tồn nói:
    - Thôi, mau dẫn voi lên bờ rồi đổ đá hộc vào thuyền cho ta!
    Những người lính khiêng đá bỏ vào thuyền, khi thuyền đằm
    ngang mực đã đánh dấu, ông cho dừng lại. Lương Thế Vinh chỉ vào
    đống đá đang chất trong thuyền, nói với sứ thần nhà Minh:
    - Cứ lấy đá trong thuyền đem cân thì sẽ biết voi nặng bao nhiêu!
    Ai nấy đều khâm phục cách tính của ông. Dù vậy, sứ thần nhà
    Minh lại cắc cớ xé một tờ giấy trong một quyển sách đưa cho ông:
    - Thế quan Trạng có đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
    Cầm lấy tờ giấy mỏng, gió thổi phất phơ, Lương Thế Vinh nghĩ
    thầm: “Giấy thì mỏng mà ly chia ở thước lại quá thô. Làm sao mà
    đo?”. Thấy ông đứng trầm ngâm suy nghĩ, quan Tàu đắc chí cười lớn:
    21

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    - Ha ha! Nhà toán học thiên tài Tổ Xung Chi của nước tôi dù có
    sống dậy cũng không đo được đâu quan Trạng ạ!
    Ông điềm đạm nói:
    - Ngài cho tôi mượn quyển sách!
    Quan Tàu tiếp tục chế giễu:
    - Chà! Quan Trạng ngờ rằng kết quả đã ghi sẵn trong sách à?
    Không đâu!
    Lương Thế Vinh chỉ mỉm cười, chứ không trả lời. Cầm sách trên
    tay, ông lấy thước đo cuốn sách rồi nhẩm tính ngay kết quả. Quan
    Tàu hết sức sững sờ:
    - Quan Trạng đoán mò cũng giỏi đấy nhỉ?
    Lương Thế Vinh nghiêm mặt:
    - Ngài lầm rồi. Việc này rất dễ, ta chỉ cần đo bề dầy của cả cuốn
    sách rồi chia đều cho số tờ là tìm ra đáp số. Có gì là khó đâu!
    Quan Tàu ngửa mặt lên trời than thở:
    - Danh đồn không sai, nước Nam quả lắm người tài.
    Ngoài việc viết sách toán, Lương Thế Vinh còn biên soạn cả sách
    về nghệ thuật như Hí phường phả lục, về Phật học như Thiền môn khoa
    giáo. Ra giúp nước một thời gian dài, ông không ham công danh
    phú quý, đến lúc già thì xin treo ấn từ quan để về quê nhà vui thú
    điền viên. Có giai thoại kể rằng, lần nọ Lương Thế Vinh phù giá
    vua Lê Thánh Tông du thuyền trên sông. Biết ông là người giỏi bơi
    lội nên nhà vua giả đò say rượu và đẩy ông rơi tỏm xuống sông
    để mua vua. Không ngờ một lát sau cũng không thấy ông trồi lên,
    nhà vua đâm ra hốt hoảng. Không lẽ vì trò đùa của mình mà giết
    hại một người tài đức? Ngài lập tức sai lính nhảy xuống sông, rồi
    bủa cả lưới để tìm ông Trạng. Không ngờ, khi bị nhà vua đẩy ngã
    xuống sông, Lương Thế Vinh vội bơi một mạch rất xa rồi ẩn náu
    trong lùm cây. Đợi đến lúc vua tôi đều thất vọng lo lắng, ông mới
    trồi đầu lên và leo lên thuyền. Vua Lê Thánh Tông mừng rỡ hỏi thế
    nãy giờ thần ở đâu thì ông tâu:
    22

    TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM

    - Thần xuống nước thì gặp cụ Khuất Nguyên, cụ hỏi thần xuống
    đây làm gì thì thần đáp là chán đời muốn chết. Cụ liền mắng: “Tao
    gặp vua nhu nhược, vô đạo thì mới nhảy xuống sông tự vẫn, chứ
    mày gặp minh quân sao lại làm cái trò này?”. Thần nghe vậy nên
    mới quay về đây ạ!
    Nghe lời “nịnh khéo” như thế vua Lê Thánh Tông bật lên tiếng
    cười khoái trá. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau tiếng cười ấy là ngài
    đang suy nghĩ về điều mà ông Trạng giỏi toán đang khuyên mình:
    phải giữ trọn đạo làm vua, xứng đáng là bậc minh quân trị nước!
    Trong sử sách nước nhà thật hiếm có ông trạng nào khôn khéo như
    vậy.
    Lúc vui thú điền viên, không còn vướng bận việc triều đình, ông
    đã dành nhiều thời gian để chế ra bàn tính đầu tiên của Việt Nam.
    Ông nặn những hòn bi bằng đất có khoan lỗ ở giữa, phơi khô, xâu
    vào một cái dũi. Rồi ông làm hai xâu, việc tính toán thuận lợi hơn.
    Tiếp đó, ông làm nhiều xâu, buộc cạnh nhau thành một bàn tính.
    Bàn tính của ông đã thay thế cách tính quen thuộc mà dân gian lúc
    đó thường dùng là “bấm đốt ngón tay” hoặc dùng một sợi dây có
    những nút thắt làm công cụ tính toán. Đại loại như khi đi vay một
    đấu thóc, người ta thắt thêm một nút, khi trả được thì cởi nút ấy ra
    v.v… Sau này, khi bàn tính Trung Quốc nhập vào nước ta thì nó
    không khác gì bàn tính của Lương Thế Vinh.
    Trở về quê nhà, Lương Thế Vinh sống chan hòa với mọi người.
    Tương truyền có lần đang ngồi nghỉ chân ở quán nước đầu làng,
    đoàn khiêng võng quan huyện đi ngang qua đó, bọn lính lệ thấy
    ông - tưởng là một nông dân quê mùa - nên đã bắt ông ra khiêng.
    Lương Thế Vinh không nói gì, dù tuổi cao sức yếu nhưng ông vẫn
    tuân lệnh. Khi khiêng võng đến vũng bùn, ông vờ trượt chân hất
    quan huyện ngã chỏng gọng. Quan huyện tức giận, quát:
    - Lính đâu! Thằng già này láo! Quất một trăm hèo cho ta!
    Những tên lính lệ vừa vung roi lên thì ông nói:
    - Khoan đã, anh vào làng gọi hộ thằng học trò tôi là Thám hoa
    Trần Bích Hoành ra khiêng võng hầu quan huyện!
    23

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Nghe nói thế, quan huyện mặt tái mét, hoảng hốt sụp lạy dưới
    chân ông:
    - Hạ quan có mắt như mù! Xin quan Trạng tha lỗi cho!
    - Quan huyện cai trị làng này, tôi là dân. Quan bắt dân đi khiêng
    võng thì có gì mà phải tạ lỗi?
    Quan huyện vẫn quỳ giữa bùn, Lương Thế Vinh bèn nói:
    - Thôi, ông đứng dậy đi. Từ rày về sau đừng hạch sách dân nữa
    nhé!
    Quan huyện mừng rỡ, lạy tạ rối rít, xin được khiêng võng đưa
    ông về nhà nhưng ông gạt đi. Lương Thế Vinh mất năm 1510 trong
    sự thương tiếc của muôn dân. Hiện nay, lăng mộ và đền thờ của
    ông tại xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản (Nam Hà) được công nhận là di
    tích lịch sử văn hóa của nước nhà. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập
    còn lưu lại bài thơ điếu ông:
    - Chiếu thư thượng đế xuống đêm qua,
    Gióng khánh tiền đài kíp tới nhà.
    Cẩm tú mấy hàng về động ngọc,
    Thánh hiền ba chén ướp hồn hoa.
    Khí thiêng đã lại thu sơn nhạc,
    Danh lạ còn truyền để quốc gia.
    Khuất ngón tay thần tài cái thế,
    Lấy ai làm trạng nước non ta?
    Bây g...
     
    Gửi ý kiến

    💕💕 “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama💕💕